CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI THU KHÁCH HÀNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính 1. Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính Theo Bộ môn kiểm toán (2014): “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.” Kiểm toán BCTC có thể hiểu là kiểm tra và xác nhận tính trung thực và hợp lý của BCTC cũng như việc BCTC có được trình bày phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận hay không? Thước đo để đánh giá kiểm toán BCTC là hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán của bộ tài chính.
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, đối tượng kiểm toán là các báo cáo tài chính bao gồm: BCĐKT (hoặc Báo cáo tình hình tài chính), Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (hoặc Báo cáo tình hình hoạt động), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính. BCTC chứa đựng những thông tin tài chính và phi tài chính phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ để người sử dụng BCTC có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị. BCTC có thể được kiểm toán bởi các loại hình như: Kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ và kiểm toán nhà nước. Tuy nhiên để tạo niềm tin cho người sử dụng kết quả kiểm toán thì yêu cầu chung là KTV phải có đủ năng lực và độc lập.
Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính 6 Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: Khi thực hiện kiểm toán BCTC, mục tiêu chung của kiểm toán viên nhà nước là: - Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng, xét trên các khía cạnh trọng yếu, liệu báo cáo tài chính, các thông tin tài chính có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, báo cáo tài chính có được lập và trình bày phù hợp với khuôn khổ quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không. - Lập báo cáo kiểm toán và công bố kết quả của cuộc kiểm toán phù hợp với các phát hiện kiểm toán. Mục đích của kiểm toán BCTC là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng các báo cáo tài chính và thông tin tài chính. Chính vì vậy kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu các báo cáo tài chính, các thông tin tài chính có được lập và trình bày trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với các quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không.
Nguyên tắc cơ bản của kiểm toán báo cáo tài chính Mỗi kiểm toán viên phải đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau: - Tuân thủ pháp luật của nhà nước. - Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp. - Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán. Tuân thủ pháp luật của nhà nước: Kiểm toán viên phải tuân thủ pháp luật của nhà nước trong quá trình hành nghề nhằm đảm bảo thực hiện đúng theo pháp luật tránh những trách nhiệm về dân sự và hình sự.
Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp: Theo thông tư 70/2015/TT – BTC quy định về các nguyên tắc đạo đức cơ bản áp dụng cho KTV: Tính chính trực, tính khách quan, năng lực chuyên môn, tính thận trọng, tính bảo mật và tư cách nghề nghiệp. 7 Tuân thủ chuẩn mực kiểm toán: Chuẩn mực kiểm toán gồm quy định về các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và cách thực hiện trong quá trình kiểm toán BCTC, yêu cầu kiểm toán phải đảm bảo thực hiện đúng chuẩn mực. Nội dung, đặc điểm và quy trình kế toán, mục tiêu kiểm toán của nợ phải thu của khách hàng 1. Nội dung khoản mục nợ phải thu khách hàng Theo điều 17, Chương 2, Thông tư 200/2014/TT - BTC: “Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (TSCĐ, BĐS đầu tư, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác.” Nợ phải thu khách hàng là một tài sản, gồm nợ phải thu ngắn hạn, nợ phải thu dài hạn và dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Trên bảng cân đối kế toán, nợ phải thu ngắn hạn khách hàng được trình bày tại phần A “Tài sản ngắn hạn”, gồn chỉ tiêu “Phải thu ngắn hạn khách hàng” ghi theo số phải thu gộp và chỉ tiêu “Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi” được ghi số âm. Do đó hiệu số giữa Phải thu khách hàng và Dự phòng phải thu khó đòi sẽ phản ánh số dư phải thu thuần, tức là giá trị thuần có thể thực hiện được. Còn khoản nợ phải thu dài hạn của khách hàng được trình bày trong phần B “Tài sản dài hạn”. Nội dung chi tiết của khoản mục nợ phải thu khách hàng được thể hiện trên bản thuyết minh báo cáo tài chính, bảng cân đối số phát sinh, sổ cái và sổ chi tiết.
Đặc điểm khoản mục nợ phải thu khách hàng Trong tất cả các khoản phải thu, khoản mục phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Phải thu khách hàng là một loại tài sản khá nhạy cảm với những gian lận. 8 Nợ phải thu khách hàng là một khoản mục rất quan trọng và có mối liên hệ với nhiều khoản mục khác trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, khoản mục phải thu khách hàng cũng có quan hệ gián tiếp với một số tài khoản như thuế thu nhập doanh nghiệp khi nó là cơ sở để lập dự phòng phải thu khó đòi.
Quy trình kế toán liên quan đến khoản mục nợ phải thu khách hàng 1. Tài khoản phải thu của khách hàng (TK 131) a. Nguyên tắc kế toán Theo Điều 18, Chương 2, Thông tư số 200/2014/TT – BTC quy định về nguyên tắc của tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng như sau: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu tư, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành.
Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay. Trong hạch toán chi tiết tài khoản này, kế toán phải tiến hành phân loại các khoản nợ, loại nợ có thể trả đúng hạn, khoản nợ khó đòi hoặc có khả năng không thu hồi được, để có căn cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc có biện pháp xử lý đối với khoản nợ phải thu không đòi được. Doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu của khách hàng theo từng loại nguyên tệ. Đối với các khoản phải thu bằng ngoại tệ thì thực hiện theo nguyên tắc: - Khi phát sinh các khoản phải thu của khách hàng (bên Nợ tài khoản 131), kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh (là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi chỉ định khách hàng thanh toán).
Riêng trường hợp nhận trước của người mua, khi đủ điều kiện ghi nhận doanh thu 9 thì bên Nợ tài khoản 131 áp dụng tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh đối với số tiền đã nhận trước; - Khi thu hồi nợ phải thu của khách hàng (bên Có tài khoản 131) kế toán phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối tượng khách nợ (Trường hợp khách nợ có nhiều giao dịch thì tỷ giá thực tế đích danh được xác định là tỷ giá bình quân gia quyền di động các giao dịch của khách nợ đó). - Doanh nghiệp phải đánh giá lại các khoản phải thu của khách hàng có gốc ngoại tệ tại tất cả các thời điểm lập Báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật. Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại khoản phải thu của khách hàng là tỷ giá mua ngoại tệ của Ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp chỉ định khách hàng thanh toán tại thời điểm lập Báo cáo tài chính. Kết cấu và nội dung phản ánh.
Bên Nợ Bên Có - Số tiền phải thu của - Số tiền khách hàng đã trả nợ khách hàng phát sinh - Số tiền đã nhận ứng trước, trả trước của khách hàng trong kỳ khi bán sản phẩm, hàng hóa, BĐS đầu - Khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng sau khi đã tư, TSCĐ, dịch vụ, các giao hàng và khách hàng có khiếu nại. khoản đầu tư tài chính. - Doanh thu của số hàng đã bán bị người mua trả lại - Số tiền thừa trả lại cho (có thuế GTGT hoặc không có thuế GTGT). khách hàng.
- Số tiền chiết khấu thanh toán và chiết khấu thương - Đánh giá lại các khoản mại cho người mua. phải thu bằng ngoại tệ - Đánh giá lại các khoản phải thu bằng ngoại tệ (trường hợp tỷ giá ngoại (trường hợp tỷ giá ngoại tệ giảm so với Đồng Việt tệ tăng so với Đồng Việt Nam) Số dư bên Nợ Số dư bên Có Số tiền còn phải thu của Số tiền nhận trước hoặc số đã thu nhiều hơn số phải 10 khách hàng thu của khách hàng chi tiết theo từng đối tượng cụ thể c.