Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1. Khái niệm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác, Thông tư 89/2002/TT-BTC: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như: bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Liên quan đến doanh thu trong BCKQHĐKD của doanh nghiệp có các chỉ tiêu sau đây: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Đây là chỉ tiêu gộp của doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và doanh thu nội bộ.
- Các khoản giảm trừ doanh thu: + Chiết khấu thương mại: Là khoản dịch vụ bán hạ giá niêm yết cho khách hàng mua với số lượng lớn. + Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do những hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc thị hiếu. + Hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. - Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Chỉ tiêu này phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu trong kỳ báo cáo, làm căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Khoa Phương Ngọc 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Ngọc Thủy 1. Cách thức xác định và điều kiện để ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 1. Cách thức xác định - Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được.
- Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. - Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai.
- Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. - Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Điều kiện ghi nhận - Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; - Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; - Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; - Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; SVTH: Nguyễn Khoa Phương Ngọc 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Ngọc Thủy - Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Hệ thống chứng từ liên quan đến công tác kế toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - Đơn đặt hàng của KH, hợp đồng đã kí kết về bán hàng và cung cấp dịch vụ - Phiếu xuất kho; Phiếu vận chuyển - Hóa đơn GTGT; Hóa đơn bán hàng - Bảng thanh toán đại lý - Bản quyết toán thanh lý hợp đồng bán hàng cung cấp dịch vụ - Thẻ quầy hàng; các hợp đồng, khế ước tín dụng. Quy trình hạch toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Việc tìm hiểu quy trình hạch toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cũng là một bước quan trọng, làm cơ sở cho việc kiểm toán khoản mục này.
521,531,532 511 111, 112, 131 K/c các khoản Tiền, hàng đã thu lần giảm trừ DT đầu và số còn phải thu 3332, 3333 3331 Ghi nhận thuế Thuế GTGT TTĐB, thuế XK phải nộp 911 K/c doanh thu thuần 515 3387 K/c doanh thu tài chính Ghi nhận lãi bán hàng trả góp Sơ đồ 1.1: Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ SVTH: Nguyễn Khoa Phương Ngọc 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Ngọc Thủy 1. Kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC 1. Vai trò của kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm toán BCTC Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là một khoản mục trọng yếu trên BCKQHĐKD vì đó là cơ sở để người sử dụng đánh giá tình hình hoạt động và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó khoản mục này là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn đến BCTC bị sai lệch trọng yếu làm cho BCTC không phản ánh trung thực tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể đó là: - Thứ nhất, doanh thu có liên quan đến chu trình bán hàng và thu tiền, đến hoạt động tài chính của các doanh nghiệp và do đó liên quan chặt chẽ đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên BCĐKT và BCKQHĐKD, cụ thể là các khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu…Đây đều là những yếu tố linh hoạt, hay biến động và dễ xảy ra gian lận nhất. Do đó, thông qua việc kiểm tra doanh thu có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc hạch toán các chỉ tiêu có liên quan phản ánh trên BCĐKT và ngược lại. - Thứ hai, doanh thu là cơ sở để xác định các chỉ tiêu lợi nhuận và các loại thuế khác nên rất nhạy cảm với các gian lận trong việc xác định mức lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp và cả các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Cho nên, thông qua việc kiểm tra đối chiếu và thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với chỉ tiêu doanh thu có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc hạch toán và xác định các chỉ tiêu đó.
Mục tiêu của kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC”, đoạn 11 xác định: “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” Các mục tiêu kiểm toán giúp cho đơn vị kiểm toán thấy được những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin của đơn vị. Đối với khoản mục doanh thu trên BCTC, mục tiêu kiểm toán thường được thể hiện như sau: SVTH: Nguyễn Khoa Phương Ngọc 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Ngọc Thủy Mục tiêu hiện hữu: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi nhận phải thực sự đã phát sinh và thuộc về đơn vị. Mục tiêu đầy đủ: Mọi nghiệp vụ bán hàng và ghi nhận doanh thu đều đã được ghi sổ, doanh nghiệp không bỏ sót bất kỳ một khoản doanh thu nào khi nó đã thỏa mãn các tiêu chuẩn để ghi nhận doanh thu.
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Hàng hóa và dịch vụ tiêu thụ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Mục tiêu chính xác: Các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ được ghi sổ tổng hợp, chi tiết một cách thống nhất, tính toán và cộng dồn chính xác. Mục tiêu đánh giá: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được đánh giá đúng đắn. Mục tiêu trình bày và công bố: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được trình bày đúng đắn và khai báo đầy đủ.
Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Kiểm toán khoản mục doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cũng cần phải thực hiện tuân theo quy trình kiểm toán chuẩn, bao gồm 3 giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán, Thực hiện kiểm toán và Kết thúc kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán Trong kiểm toán BCTC, kiểm toán doanh thu hay kiểm toán bất cứ một phần hành cụ thể nào thì việc lập kế hoạch kiểm toán là việc đầu tiên và quan trọng nhất trong mọi cuộc kiểm toán. Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ giúp KTV phối hợp hiệu quả, thu thập được bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị, đồng thời làm căn cứ để công ty kiểm toán tránh được bất đồng với khách hàng. Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán Để đưa ra quyết định chấp nhận hay duy trì một khách hàng, KTV cần xem xét các vấn đề sau: Tính độc lập của công ty kiểm toán; khả năng phục vụ tốt khách hàng; tính liêm chính của ban quản trị doanh nghiệp được kiểm toán; hệ thống kế toán của khách hàng phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng minh nghiệp vụ kinh tế phát sinh; thỏa thuận phí kiểm toán với khách hàng.
SVTH: Nguyễn Khoa Phương Ngọc 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.