Chương 1: Lý luận chung về quy trình kiểm toán khoản mục vay và nợ thuê tài chính trong BCTC 1.1 Đặc điểm của khoản mục vay và nợ thuê tài chính 1.1 Khái niệm - Bản chất của khoản mục vay và nợ thuê tài chính 1.1 Khái niệm vay và nợ thuê tài chính “VVNTTC là những khoản mà DN đi vay các tổ chức tín dụng hoặc từ đối tượng khác để thỏa mãn nhu cầu vốn thiếu hụt, mở rộng sản xuất, mua sắm TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trường hợp vay ngân hàng, DN phải đáp ứng được các nguyên tắc, điều kiện cho vay của ngân hàng về mục đích sử dụng vốn, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tài sản đảm bảo và có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Trường hợp vay các tổ chức, các nhân DN cũng phải đảm bảo các khoản vay của bên cho vay. Các quyền lợi, nghĩa vụ của bên đi vay và bên cho vay được phản ánh trên hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết”.
(Giáo trình kế toán tài chính, trường Học viện Ngân hàng, Nhà xuất bản lao động, PGS.TS Lê Văn Luyện chủ biên) Đối với các khoản nợ vay, DN không những phải trả lãi mà còn phải trả đúng thời hạn đã cam kết. Nếu không thực hiện được kế hoạch trả nợ như đã thỏa thuận và không được bên cho vay gia hạn thì khoản nợ đó vay đó bị chuyển thành nợ quá hạn và DN phải chịu lãi suất cao hơn cùng với các điều khoản phạt của bên cho vay theo hợp đồng tín dụng. Các khoản vay này được bảo đảm thông qua hợp đồng vay và tài sản thế chấp của DN. Các khoản vay cũng như trái phiếu là phần bổ sung vốn để đảm bảo cho DN có điều kiện hoạt động bình thường.
Tuy nhiên, khác với trái phiếu là phần huy động của các DN được phép phát hành thì khoản vay còn phải kèm theo điều kiện về tài sản thế chấp và việc sử dụng đúng mục đích vay. Vì vậy, ngoài những mục tiêu kiểm toán tài chính, kiểm toán các khoản vay cần phải hướng tới cả việc tuân thủ các quy định chung về vay và việc sử dụng vốn vay. Căn cứ theo Điều 4 Luật các tổ chức tín dung năm 2010: “Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là Công ty cho thuê tài chính với khách hàng thuê. Tài sản thuê tài chính bao 7 gồm: máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các tài sản khác.
Tài sản thuê tài chính không bao gồm bất động sản.2 Phân loại các khoản vay Từ góc độ của người đi vay là DN cũng có thể chia các khoản vay ra nhiều loại khác nhau, nhưng đối với kế toán để đáp ứng thông tin cho mục tiêu quản lý các khoản vay được phân loại thành ngắn hạn và dài hạn theo các nguyên tắc phân loại nợ phải trả căn cứ vào thời gian đáo hạn của các khoản vay phải hoàn trả. + Vay ngắn hạn là các khoản vay có thời gian đáo hạn hay còn gọi là thời hạn thanh toán cả gốc và lãi vay trong thời gian một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Các khoản vay ngắn hạn thường gắn với mua hàng và thanh toán tiền hàng cho từng khách hàng. + Vay dài hạn là khoản vay có thời hạn trả gốc trên một năm hay nhiều hơn một chu kỳ kinh doanh thông thường mà DN phải hoàn trả nên sẽ đòi hỏi các khoản chi trả bằng tiền trong tương lai xa hơn (có thể trong một vài năm).
Các khoản vay dài hạn thường liên quan đến đầu tư phát triển, có quy mô lớn và được thanh toán nhiều lần, hoặc được sử dụng để tài trợ cho các tài sản dài hạn như nhà xưởng, máy móc thiết bị, dây truyền sản xuất,… 1.3 Đặc điểm, bản chất của khoản mục vay và nợ thuê tài chính - VVNTTC về bản chất là khoản nợ phải trả của DN, vì vậy các DN thường có xu hướng vi phạm tính đầy đủ của khoản mục. Đối với mỗi sai sót sẽ làm ảnh hưởng tới các khoản mục khác và số liệu trên BCTC của đơn vị - Thường mục đích của đi vay là bổ sung vốn mà DN đang thiếu hụt trong việc sử dụng để đầu tư, kinh doanh, mua sắm TSCĐ và các mục đích khác để phát triển mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Các khoản VVNTTC cũng thường có giá trị rất lớn, ảnh hưởng trọng yếu tới số dư cuối kì trên Bảng cân đối kế toán - Các giao dịch đi vay trong năm của DN không xảy ra thường xuyên mà thường gắn với một nhu cầu nhất định nào đó và thường có giá trị rất lớn và mang tính trọng yếu - Đối tượng cho vay và phương thức đi vay của DN rất đa dạng: 8 + DN có thể đi vay từ đa dạng các đối tượng (ngân hàng, các tổ chức kinh tế, cá nhân, cá nhân trong DN, nhà nước,…) + Tùy từng loại hình DN với nhu cầu vay vốn khác nhau (mua sắm TSCĐ, bổ sung vốn lưu động, đầu tư xây dựng dự án, trả cho nhà cung cấp,…) mà DN có thể lựa chọn đi vay dưới nhiều hình thức gắn với từng Hợp đồng khác nhau nhưng vẫn mang bản chất là khoản vay của DN và nằm trên tài khoản 341 – Vay và nợ thuê tài chính. Hiện nay trên thị trường vay vốn có các loại hình vay như sau: Vay truyền thống Vay kinh doanh có kỳ hạn: Hiện nay, đa số các DN khi thiếu vốn sẽ lựa chọn đi vay dưới hình thức này để bổ sung số vốn thiếu hụt của mình.
Đây là khoản vay với một số tiền gốc vay nhất định được thống nhất từ ban đầu và đi kèm với đó là những điều khoản, thời gian hoàn trả theo Hợp đồng. Các khoản vay này có thể là một khoản vay không đảm bảo (vay tín chấp), nghĩa là đi vay mà không cần tài sản thế chấp và dựa hoàn toàn trên uy tín của người vay. Hoặc là một khoản vay có đảm bảo (vay thế chấp), DN đi vay cần phải đảm bảo sự an toàn cho khoản vay bằng những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, ví dụ như khoản ký quỹ với ngân hàng phát hành, tài sản như ô tô, đất đai, nhà cửa, sổ tiết kiệm,…. Hạn mức vay khá cao lên đến 80% giá trị tài sản cầm cố.
Lãi suất khá phù hợp, tuy nhiên vay thế chấp thường đi kèm thêm các điều khoản liên quan đến các loại phí như phí trả chậm hay phí trả trước hạn + Vay thấu chi: Đây là hình thức đi vay dưới dạng DN có thể rút vượt số tiền trong tài khoản thanh toán hiện có với ngân hàng. Số tiền DN đi vay sẽ phụ thuộc vào từng nhu cầu ở từng thời điểm mà giá trị thay đổi khác nhau, tuy nhiên ngân hàng sẽ quy định một hạn mức cụ thể để giới hạn số tiền vay. Hạn mức vay thấu chi cũng rất đa dạng phụ thuộc vào giá trị và bản chất của tài sản thế chấp và mức xếp hạng tín dụng của ngân hàng mà DN lựa chọn đi vay. Ví dụ, sử dụng danh mục đầu tư cổ phiếu làm tài sản thế chấp có thể nhận được hạn mức vay thấp hơn so với việc sử dụng một khoản ký quỹ với ngân hàng.
Nếu ngân hàng cho rằng DN đang kinh doanh không tốt, họ có thể hạ mức trần tín dụng, tăng lãi suất, hoặc tước đi quyền vay thấu chi ngay lập tức. Điều này có thể gây tổn hại tới DN khi hoạt động kinh doanh đang trong giai đoạn cần vốn nhất. 9 Tài trợ thương mại: là hình thức tài trợ vốn dựa trên giao dịch hàng hóa hoặc dịch vụ giữa bên mua và bên bán. Một số công cụ tài chính quan trọng bao gồm: + Tín dụng thư (LC): là một cam kết thanh toán từ bên thứ 3 là ngân hàng trong giao dịch giữa bên xuất khẩu (bên bán) và bên nhập khẩu (bên mua) đảm bảo rằng khoản thanh toán sẽ được thực hiện dưới một số điều kiện nhất định.
Có nghĩa là bên xuất khẩu (người thụ hưởng) có thể được thanh toán tiền ngay bằng việc ứng vốn từ ngân hàng, còn bên nhập khẩu, lãi suất phát sinh từ việc thanh toán sớm do người yêu cầu phát hành LC (bên nhập khẩu) chi trả. Bên nhập khẩu sẽ được mua hàng trả chậm với chi phí hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đây cũng là giải pháp tài chính cho DN trong bối cảnh bị hạn chế tiếp cận vốn vay bằng ngoại tệ. Vì vậy, dạng thanh toán này phù hợp với các DN nhập khẩu theo phương thức L/C.
Bên xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền ngay mà không phải trả bất kỳ khoản phí nào. Vì các khoản vay được giao dịch dưới nhiều loại hình thức Hợp đồng đa dạng nên khi làm kế toán trong DN và cả khi thực hiện kiểm toán khoản mục này cần lưu ý kỹ các điều khoản Hợp đồng và bản chất của nó để phân loại. Mỗi Hợp đồng đi vay lại gắn với những điều khoản khác nhau như sử dụng tài sản để đảm bảo, trả nợ gốc, lãi vay trong một thời gian nhất định, phạt trả chậm, phí đi kèm… nên việc xác định rõ ràng các điều khoản của Hợp đồng vay là cần thiết để xác định quyền và nghĩa vụ của cả bên cho vay và bên đi vay.4 Vai trò của khoản mục và ảnh hưởng đến BCTC, báo cáo kiểm toán Số liệu trên khoản mục này cũng là cơ sở để tính ra những chỉ số tài chính của DN, được những người sử dụng BCTC sử dụng để phân tích và đánh giá tình hình tài chính như khả năng thanh toán, cơ cấu vốn của DN. Qua đó đánh giá được tính an toàn trong chiến lược hoạt động của DN.
Chẳng hạn, nếu số nợ ngắn hạn lớn hơn giá trị tài sản ngắn hạn nghĩa là DN đang sử dụng một phần nợ ngắn hạn để đầu tư cho tài sản dài hạn thì có thể nói rằng DN đang sử dụng một chính sách khá mạo hiểm và ngược lại. Việc xác định mục tiêu vay vốn, giá trị của một khoản vay để hạch toán liệu chi phí lãi vay của khoản vay đó có được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ, công trình xây dựng,… hay sẽ đưa vào chi phí tài chính trong kỳ ảnh hưởng trọng yếu đến giá trị các 10 khoản mục liên quan khác trên BCTC và việc để xảy ra rủi ro ảnh hưởng đến việc đưa ra ý kiến kiểm toán trên báo cáo cáo kiểm toán của KTV.