CHƯƠNG 1 Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của khoản mục vốn bằng tiền trong quá trình kiểm toán Báo cáo tài chính, cùng với kiến thức và trải nghiệm thực tế qua quá trình thực tập tại công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía nam (AASCs) để tiến hành nghiên cứu về đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền tại công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Phía nam (AASCs)”. Bằng cách sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu tài liệu, duy vật biện chứng, thống kê, phân tích tổng hợp tài liệu, quan sát và phỏng vấn để hoàn thành báo cáo với cấu trúc 5 chương, từ phân tích cơ sở lý thuyết lý luận đến thực tiễn, sau cùng tổng hợp so sánh nhận xét quy trình và đề xuất những giải pháp để góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán. Trần Văn Tùng SVTH: Huỳnh Thị Cẩm Tú CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC VỐN BẰNG TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BCTC. Khái quát chung về kiểm toán Báo cáo tài chính 2.
Khái niệm Theo chuẩn mực kiểm toán số 200 (VSA 200) thì: “Kiểm toán Báo cáo tài chính là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán của các KTV để nhằm xác định tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của Báo cáo tài chính”. Đối tượng của kiểm toán Báo cáo tài chính Đối tượng của kiểm toán Báo cáo tài chính là các BCTC của doanh nghiệp. Theo luật kế toán hiện hành thì BCTC bắt buộc của đơn vị là bảng CĐKT, báo cáo KQHĐKD, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh BCTC. Ngoài ra còn có các bảng kê khai có tính pháp lý khác như các bảng dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước, các bảng dự toán và quyết toán công trình xây dựng cơ bản.
Mục tiêu của kiểm toán Báo cáo tài chính Mục tiêu tổng quát: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 thì: “Mục tiêu tổng quát của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét rằng BCTC của một đơn vị có được lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ luật pháp liên quan, có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của đơn vị trên các khía cạnh trọng yếu hay không”. Mục tiêu chung: Tính có thật của các thông tin Tính trọn vẹn của thông tin Tính đúng đắn của việc tính giá Tính chính xác về cơ học Tính đúng đắn trong việc phân loại và trình bày Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp. Trần Văn Tùng SVTH: Huỳnh Thị Cẩm Tú Mục tiêu đặc thù: được xác định trên cơ sở đặc điểm riêng của khoản mục trong chu trình được kiểm toán và đặc điểm tổ chức hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát. Tương ứng với mỗi mục tiêu chung có ít nhất một mục tiêu đặc thù.
Các cách tiếp cận trong báo cáo tài chính Kiểm toán theo khoản mục: là cách phân chia từng khoản mục hoặc nhóm khoản mục theo thứ tự trong các BCTC vào một phần hành. Cách phân chia này đơn giản, song không có hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ nhau. Kiểm toán theo chu trình: là cách chia căn cứ vào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục. Cách phân chia này thường được thực hiện dựa vào cách ghi các nghiệp vụ kinh tế vào sổ sách kế toán.
Các phương pháp kiểm toán Báo cáo tài chính Phương pháp kiểm toán chứng từ: Kiểm tra các cân đối kế toán: là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân đối khác để kiểm toán các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cân đối đó. Đối chiếu trực tiếp: là đối chiếu một chỉ tiêu trên các nguồn tài liệu khác nhau. Đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu với nhau. Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ: Kiểm kê: là việc kiểm tra tại chổ các đối tượng kiểm toán.
Điều tra: là dùng các cách khác nhau để tiếp cận và đánh giá đối tượng kiểm toán. Trắc nghiệm: là việc tái diễn các hoạt động, nghiệp vụ để xác minh lại kết quả của một quá trình, một sự việc đã qua. Nội dung và đặc điểm của khoản mục tiền 2.1 Nội dung Trên Bảng cân đối kế toán, tiền được trình bày ở phần Tài Sản (Phần A: Tài sản ngắn hạn, khoản I: Tiền và tương đương tiền, mục 1: Tiền) theo số tổng hợp và các nội dung chi tiết được công bố trong Bản thuyết minh BCTC gồm: Tiền mặt: bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ và vàng tiền tệ. Trần Văn Tùng SVTH: Huỳnh Thị Cẩm Tú Tiền gửi ngân hàng: bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ và vàng tiền tệ được gửi tại ngân hàng.
Tiền đang chuyển: bao gồm các khoản tiền Việt Nam và ngoại tệ mà DN đã nộp vào ngân hàng, kho bạc Nhà nước, hoặc đã gửi qua bưu điện để chuyển cho ngân hàng, hay tuy đã làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi ngân hàng để trả cho các đơn vị khác, thế nhưng đến ngày khóa sổ thì DN vẫn chưa nhận được giấy báo hay bảng sao kê của ngân hàng hoặc giấy báo của kho bạc.2 Đặc điểm Tiền là khoản mục được trình bày đầu tiên trên Bảng cân đối kế toán và là một khoản mục quan trọng trong Tài sản ngắn hạn. Các nghiệp vụ về tiền thường phát sinh thường xuyên với số lượng lớn và có quy mô khác nhau. Tiền bị ảnh hưởng và có ảnh hưởng đến nhiều khoản mục quan trọng như thu nhập, chi phí, công nợ, và hầu hết các tài sản khác của doanh nghiệp. Do số phát sinh của tiền thường lớn hơn số phát sinh của nhiều tài khoản khác dẫn đến những sai phạm trong các nghiệp vụ liên quan đến tiền có nhiều khả năng xảy ra và khó bị phát hiện đồng thời các thủ thuật gian lận rất đa dạng và tinh vi để hệ thống KSNB và các thủ tục kiểm toán không ngăn chặn hay phát hiện được.
Với các đặc điểm nêu trên có thể thấy tiền là một khoản mục quan trọng nhưng lại dễ trình bày sai lệch, khả năng mất mát, gian lận lớn. Vì vậy, trong mọi cuộc kiểm toán BCTC nào thì kiểm toán tiền luôn là một nội dung quan trọng cho dù số dư của khoản mục tiền có thể là không trọng yếu. Kiểm toán vốn bằng tiền 2.1 Ý nghĩa Vốn bằng tiền là một khoản mục trong tài sản lưu động, được trình bày trước tiên trên bảng cân đối kế toán, và là căn cứ để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp. Khi số dư của tài khoản này quá thấp sẽ cho thấy đơn vị sẽ gặp khó khăn trong thanh toán.
Ngược lại, khi số dư quá cao sẽ cho thấy sự quản lý vốn bằng tiền kém hiệu quả. Kiểm toán các tài khoản tiền có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát hiện và ngăn ngừa những gian lận, sai sót hoặc lạm dụng quá trình quản lý, hạch toán các tài khoản 6 GVHD: TS. Trần Văn Tùng SVTH: Huỳnh Thị Cẩm Tú tiền. Đồng thời các tài khoản tiền liên quan đến rất nhiều các chu kỳ kinh doanh khác.
Vì vậy việc kiểm toán các tài khoản tiền cũng được đặt trong mối quan hệ với kiểm toán các khoản mục liên quan. Việc sai sót, gian lận tiền dĩ nhiên sẽ dẫn đến những sai sót ở các chu kỳ liên quan. Hoặc ngược lại, những sai sót, gian lận ở các khoản mục liên quan, có thể dẫn đến sai sót và gian lận ở các tài khoản tiền.1: Mối liên hệ giữa tiền và các chu kỳ kinh doanh chính 2.2 Mục tiêu kiểm toán vốn bằng tiền “Mục tiêu kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan, có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu không?” Đây là mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán BCTC. Mục tiêu tổng quát này được cụ thể hoá thành các mục tiêu kiểm toán chung như: tính hợp lý chung, tính hiện hữu, tính đầy đủ, tính chính xác số học, phân loại và trình bày, quyền và nghĩa vụ, đánh giá và phân bổ.
Trần Văn Tùng SVTH: Huỳnh Thị Cẩm Tú Việc xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán có vai trò rất quan trọng. Nó giúp cho KTV thực hiện đúng hướng và có hiệu quả. Mục tiêu kiểm toán của khoản mục vốn bằng tiền gồm: Mục tiêu kiểm toán Diễn giải - Số dư các tài khoản tiền trên BCTC là có thật. Hiện hữu Đầy đủ - Tất cả các khoản tiền đều được ghi chép đầy đủ.
- Đơn vị có quyền sỡ hữu về mặt pháp lý đối với các khoản Quyền tiền được ghi nhận. - Các khoản tiền đều được thể hiện trên BCTC và những Đánh giá và Phân bổ điều chỉnh liên quan đã được đánh giá, ghi nhận phù hợp theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành. Ghi chép chính xác - Số liệu chi tiết của tài khoan tiền khớp đúng với số dư trên sổ cái. Trình bày và Thuyết - Các khoản tiềnliên phép tính trìnhtớibày đượcquan tàivà khoản tiền thuyết đềuthì minh chính xác có thật, minh về số học.
thuộc về đơn vị, đầy đủ, diễn đạt dễ hiểu và phân loại đúng.3 Quy trình kiểm toán vốn bằng tiền 2.1 Lập kế hoạch kiểm toán Sau khi đã xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán cho từng khoản mục, KTV tiến hành thu thập bằng chứng cho cuộc kiểm toán. Để thực hiện công việc này, KTV cần xây dựng một quy trình kiểm toán cụ thể cho cuộc kiểm toán để có thể đạt được kết quả tốt. Kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền được tiến hành qua ba giai đoạn: lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Bước 1: Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền Khi tiếp nhận thư mời kiểm toán, công ty kiểm toán cần đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua hệ thống KSNB của công ty, tính liêm chính của ban quản lý và 8 GVHD: TS.
Trần Văn Tùng SVTH: Huỳnh Thị Cẩm Tú liên lạc với KTV tiền nhiệm.