MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Mỗi khoản mục trên báo cáo tài chính đều đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất cũng như thương mại dịch vụ, chi phí bán hàng luôn chiếm một vai trò hết sức quan trọng để kiểm soát được doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc phân tích các chi phí sử dụng vào việc bán hàng sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra các chính sách tối đa hóa chi phí sử dụng nhưng vẫn đạt được lợi nhuận như mong muốn. Ở một số doanh nghiệp, chi phí bán hàng biến động sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất kinh doanh của danh nghiệp.
Vì vậy, chi phí bán hàng là khoản mục dễ bị sử dụng để làm công cụ điều chỉnh theo lợi nhuận mong muốn của mình. Kiểm toán chi phí bán hàng chứa đựng nhiều rủi ro và những sai sót liên quan đến chi phí bán hàng thường có ảnh hưởng trọng yếu đến mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Do đó, kiểm toán chi phí bán hàng là một quy trình phức tạp. Việc xử lý một khối lượng dữ liệu vừa lớn vừa phức tạp có thể tạo ra sức ép khiến kiểm toán viên dễ bị sai sót.
Hơn nữa, thực hiện các thử nghiệm kiểm tra tài liệu hay theo dõi sự lưu chuyển liên quan đến chi phí bán hàng của kiểm toán viên cũng gặp rất nhiều khó khãn. Chính vì vậy, ngành kiểm toán đang đối mặt với nhiều thách thức và khó khãn, đòi hỏi thông tin kiểm toán phải được chính xác. Áp lực nâng cao chất lượng kiểm toán là yêu cầu không thể thiếu đối với các kiểm toán viên. Mặt khác, so với nhiều nước trên thế giới, tính chuyên nghiệp và quy mô kiểm toán Việt Nam còn khá khiêm tốn.
Trong điều kiện như vậy, các công ty kiểm toán Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều vấn đề xây dựng được một quy 1 trình kiểm toán đầy đủ, chặt chẽ, linh hoạt và hiệu quả để đáp ứng được các mục tiêu kiểm toán. Do đó, đối với một quy trình phức tạp như quy trình kiểm toán chi phí bán hàng, doanh nghiệp kiểm toán khó tránh khỏi những thiếu sót và bất cập. Qua quá trình thực tập tại công ty TNHH kiểm toán Trường Thành, em nhận thấy khoản mục chi phí bán hàng là một khoản mục nhạy cảm và dễ xảy ra sai sót trong khi kiểm toán, chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu về quy trình kiểm toán chi phí bán hàng tại công ty TNHH kiểm toán Trường Thành” cho khóa luận của mình, nhằm tìm hiểu về quy trình kiểm toán chi phí bán hàng thực tế tại một công ty kiểm toán Việt Nam đồng thời so sánh sự khác nhau giữa việc thực hiện trên thực tế và chương trình kiểm toán cũng như đóng góp một số ý kiến để hàn thiện hơn quy trình kiểm toán chi phí bán hàng và giúp hạn chế những khó khãn cho kiểm toán viên khi kiểm toán khoản mục này nhằm đảm bảo chi phí bán hàng thật sự tồn tại trong thực tế; được ghi chép và báo cáo đầy đủ, chính xác; được phân loại đúng đắn và trình bày thích hợp.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Phân tích, đánh giá quy trình kiểm toán chi phí bán hàng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH kiểm toán Trường Thành, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán chi phí bán hàng.2 Mục tiêu cụ thể − Hệ thống cơ sở hóa lý luận về chi phí bán hàng, làm rõ vấn đề của quy trình kiểm toán chi phí bán hàng. − Đánh giá, phân tích thực trạng quy trình kiểm toán chi phí bán hàng trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểm toán Trường Thành.
− Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán chi phí bán hàng tại công ty TNHH kiểm toán Trường Thành.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 1.1 Phạm vi nghiên cứu Đề tài chủ yếu nghiên cứu hoạt động kiểm toán của công ty TNHH Trường Thành thực hiện tại các công ty khách hàng.2 Đối tượng nghiên cứu Đề tài chủ yếu nghiên cứu hoạt động và quy trình kiểm toán của công ty TNHH Trường Thành thực hiện. 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát về chi phí bán hàng Chi phí bán hàng là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa liên quan trực tiếp đến khâu bảo quản tiêu thụ hàng hóa, thành phẩm, lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp phải chi ra trong một thời kỳ nhất định. Chi phí bán hàng được bù đắp bởi doanh thu trong kỳ và là một bộ phận chi phí quan trọng trong chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng là một loại chi phí đặc biệt được sử dụng để phân biệt giữa chi phí trực tiếp và chi phí chung trên toàn bộ doanh nghiệp.
Xác định Chi phí bán hàng chính xác để đảm bảo định giá sản phẩm hoặc dịch vụ được thiết lập ở các cấp cung cấp tỷ suất lợi nhuận gộp phù hợp. Đưa doanh nghiệp vào vị trí để tối đa hóa lợi nhuận bằng cách quản lý chi phí trên cao. Các mặt hàng phổ biến nhất được bao gồm trong Chi phí bán hàng là lao động trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp và phân bổ trên không.2 Phân loại Chi phí nhân viên phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sản phẩm hàng hóa…bao gồm tiền lương, tiền ãn ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp. Chi phí vật liệu, bao bì là các khoản chi vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng hóa, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận 4 chuyển sản phẩm, hàng hóa trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ.
dùng cho bộ phận bán hàng. Chi phí dụng cụ, đồ dùng là các khoản chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc,… Chi phí khấu hao TSCĐ phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phưng tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng… Chi phí bảo hành dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa. Chi phí dịch vụ mua ngoài là các khoản chi dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hóa đi bán, tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu. Chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hóa, chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng… Tùy theo từng ngành, từng quy định nội bộ của doanh nghiệp về chi phí bán hàng, TK 641 có thể mở những tiểu khoản khác nhau để theo dõi loại chi phí phù hợp.3 Kiểm toán báo cáo tài chính 2.1 Kiểm toán báo cáo tài chính là gì Khái niệm “Kiểm toán báo cáo tài chính” có thể được hiểu bởi nhiều cách khác nhau.
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì kiểm toán báo cáo tài chính được hiểu như sau: 5 Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập.2 Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính Trong kiểm toán báo cáo tài chính, đối tượng kiểm toán là các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính: gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và Thuyết minh báo cáo tài chính. Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính phản ánh kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu giá trị và các thông tin cần thiết khác.3 Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính: Giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Mục tiêu hiện hữu và phát sinh: Nhằm thu thập các bằng chứng để khẳng định rằng các khoản mục có trong sổ sách và báo cáo là thực sự tồn tại và các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu và chi phí có thực sự phát sinh ở thực tế không.
Mục tiêu trọn vẹn và đầy đủ: Nhằm khẳng định các khoản mục và nghiệp vụ phát sinh và tồn tại ngoài thực tế thì có được phản ánh trọn vẹn và đầy đủ trong sổ sách báo cáo. Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Nhằm khẳng định những con số được báo cáo là tài sản của đơn vị phải được đại diện cho quyền về tài sản và những con 6 số được trình bày là công nợ thì chúng đại diện cho nghĩa vụ của đơn vị tại thời điểm lập BCTC. Mục tiêu đánh giá và chính xác: nhằm xác minh sự chính xác trong các phép tính số học, các phép tính giá, phương pháp tính của kế toán (tính giá hàng tồn kho, chi phí khấu hao, chi phí dự phòng,…); sự thống nhất về số liệu giữa hệ thống sổ sách và báo cáo; sự phù hợp và nhất quán trong sử dụng các phương pháp tính,… (Ngô Thị Thu Hằng, 2016) 2.4 Vai trò của kiểm toán BCTC Theo VACPA: “Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin tài chính của đơn vị lập báo cáo cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng.