Đặt vấn đề Thời gian qua, chăn nuôi gia cầm đã có những bước phát triển mạnh: Từ chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ, tự phát, dần dần chuyển thành chăn nuôi tập trung với quy mô lớn hơn; năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng, cho lợi nhuận ngày càng nhiều. Những yếu tố đó làm cho chăn nuôi gia cầm không hoàn toàn phải là một nghề phụ nữa mà nhiều nơi đã trở thành một trong những nghề sản xuất chính trong sản xuất nông nghiệp. Về mặt xã hội, chăn nuôi gia cầm đã có vị thế mới, góp phần làm thay đổi nhanh chóng cơ cấu các ngành sản xuất trong nông nghiệp và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Đồng thời, chăn nuôi gia cầm đã tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến cả về con giống và trang thiết bị, đã coi khoa học công nghệ là động lực phát triển, là lực lượng sản xuất quan trọng, đã có được những bước đột phá trong khoa học công nghệ để cho ra những sản phẩm có chất lượng và giá trị cao có tính cạnh tranh trên thị trường.
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi gia súc đang gặp nhiều khó khăn, việc phát triển chăn nuôi gia cầm là một giải pháp giúp cân bằng ngành chăn nuôi nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung. Là một sinh viên chuyên ngành Thú y - Khoa Chăn nuôi thú y, trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên, ngoài việc được trang bị kiến thức chuyên môn tại nhà trường, để củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên trước khi tốt nghiệp, sinh viên sẽ có 6 tháng thực tập tốt nghiệp ngoài thực tiễn sản xuất. Xuất phát từ nhu cầu của bản thân và sự phân công của khoa Chăn nuôi Thú y, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn gà lai F1 (Hồ x Lương Phượng) nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm, khoa Chăn nuôi Thú y, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục tiêu - Giúp sinh viên củng cố kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thịt. - Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà thịt - Thành thạo kỹ thuật chẩn đoán bệnh trên đàn gà và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn gà thịt. Yêu cầu - Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thịt. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà.
Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh cho đàn gà thịt. - Chấp hành tốt nội quy, quy định của cơ sở thực tập. m 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y được xây dựng trên nền của khu trại gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học từ năm 2013. Vị trí: - Phía Đông giáp Bệnh xá thú y. - Phía Tây giáp vườn ươm viện nghiên cứu. - Phía Nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng.
- Phía Bắc giáp khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm. Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3. Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6m2 và 2 kho rộng 40m2, phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát. Toàn bộ khu vực được rào bằng lưới thép B40 với tổng chiều dài 220m, đảm bảo ngăn cách với các khu vực khác.
Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48m2 được chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên. Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2. Trong đó hố sát trùng 20m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10m2. Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120m2.
Trong đó có các công trình như: - 01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20m2 - 01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót….): 20m2 Diện tích đất còn lại là 3.960m2 được quy hoạch để trồng cây thức ăn bổ sung cho gà. Đối tượng sản xuất Sau khi tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng và cải tạo trang thiết bị chăn nuôi hiện nay trại chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y hiện có 2000 gà Hồ x Lương Phượng. Cơ sở khoa học của chuyên đề 2. Giới thiệu về giống gà Hồ x Lương Phượng Gà Lương Phượng được nhập khẩu vào nước ta qua cửa khẩu quốc tế Quảng Ninh năm 1998.
Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc đã nhập 1900 con nuôi tại trại nuôi thí nghiệm và được nhân dân ta nuôi ở nhiều nơi. Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [9], gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt bán công nghiệp hay thả vườn. Do có những ưu điểm trên hiện nay gà Lương Phượng đã được nuôi nhiều ở các trang trại và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị và được người chăn nuôi ưa chuộng. Gà Hồ là một giống gà quý ở Việt Nam được nuôi chủ yếu ở làng Lạc Thổ, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Gà Hồ có tầm vóc khá to so với các giống gà địa phương khác.Gà trống có hai màu lông chính là màu đen ánh xanh và màu đỏ đậm (giống màu quả mận chín). Gà mái có ba màu lông là màu đất sét, màu lông chim sẻ và màu vỏ quả nhãn khô (mã nhãn). Gà Hồ có đầu giống hình đầu con công hay còn gọi là "đầu công". Mào gà gọn giống hình múi chanh úp ngược hoặc hình quả dâu trên đầu, có màu đỏ.
Chân gà Hồ thường to, cao, tròn (quản), có 3 hàng vẩy, vẩy chân mịn màu vỏ đỗ nành. Gà trống có dáng cao, to và trường thân, lưng vuông, ngực nở rộng, trọng lượng của một chú gà trống khi trường thành nặng từ 4,5 - 5,5 kg. Trọng lượng của gà mái khi trưởng thành từ 3,5 - 4,0 kg. Do trọng lượng lớn, chậm chạp nên việc ấp trứng, nuôi con của gà mái rất vụng.
Cũng vì thế mà trứng ấp không nở hết, số lượng gà con trong từng đàn cũng ít hơn nhiều so với gà ri. m 5 Gà Hồ x Lương Phượng được tạo ra từ tổ hợp lai hai máu giữa gà Hồ và gà Lương Phượng (1/2 Hồ, 1/2 Lương Phượng) Gà trống trưởng thành có thân hình chắc khỏe, cân đối; da chân và mỏ có màu vàng, cổ dài vừa phải. Gà mái trưởng thành có chân cao vừa phải, thân hình cân đối, da chân và mỏ có màu vàng. Gà nuôi thương phẩm có thân đồ thị cân đối, nhanh nhẹn, chân chắc khoẻ, lườn tương đối phẳng; chân tương đối to, cao, đùi dài.
Lúc 12 tuần tuổi đạt, tỷ lệ nuôi sống trên 94%.797 gram/com; tiêu tốn thức ăn cho 01 kg tăng trọng là 2,84 kg; tỷ lệ thân thịt là 71,74. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng Sức sản xuất của vật nuôi là khả năng cho sản phẩm của vật nuôi. Tùy từng loại vật nuôi khác nhau mà sản phẩm thu được cũng khác nhau có thể là thịt, trứng, sữa, lông, da,. Sức sản xuất phụ thuộc vào tính di truyền và điều kiện nuôi dưỡng.
Sức sản xuất của vật nuôi chính là mục đích của người chăn nuôi. Nếu vật nuôi có sức sản xuất cao, giá thành hạ, sản phẩm hợp thị hiếu người tiêu dùng thì hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi sẽ cao. Vì vậy người chăn nuôi luôn quan tâm để khả năng sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và thể tích cơ thể tăng lên.
Điều này trước tiên là tế bào tăng lên về số lượng, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước. Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên. Sự lớn lên của cơ thể là do sự tích luỹ các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất. Tác giả Nguyễn Hải Quân và cs (2005) [8], đã khái quát: “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”.
Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, m 6 quan trọng nhất là yếu tố giống, dinh dưỡng và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác. Theo quan điểm sinh vật học thì sinh trưởng là quá trình tổng hợp protein, nên thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Sinh trưởng phải thông qua ba quá trình: phân chia tế bào để tăng số lượng tế bào, tăng thể tich tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống. Các tính trạng về đặc điểm sinh trưởng gia cầm là các tính trạng di truyền số lượng và phụ thuộc vào một số đặc điểm như giống, loài, tuổi, hướng sản xuất,.
Các tính trạng này được hình thành bởi nhiều nhân tố di truyền và chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt Năng lượng: gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được. Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng. Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần không được vượt quá 4%.
Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất. Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn đẻ. Protein: đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm. Người ta cho rằng 20 - 25 % sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein.
Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh. Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 - 55 lần trong 6 tuần sau khi nở.