ĐẶT VẤN ĐỀ Trong vài thập kỷ qua, ngành chăn nuôi nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trong phạm vi cả nước từ thành phố, tỉnh, huyện đến các hộ nông dân. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức sống của người dân được nâng cao nên nhu cầu về các sản phẩm thực phẩm như thịt, trứng, sữa… có chất lượng ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về sản phẩm thịt gà như: Thịt chắc, thơm ngon, không có thuốc kháng sinh và được nuôi trong điều kiện chăn thả, bán chăn thả với quy mô vừa và nhỏ thì chúng ta phải đặc biệt chú trọng tới công tác giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Ngoài ra, ngành chăn nuôi đang trở thành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế của các hộ trong cả nước.
Trong những năm vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã nhập nhiều tổ hợp gà nổi tiếng trên thế giới để nhân thuần hoặc lai với các giống gà khác, nhằm cung cấp gà thương phẩm thịt cho thị trường, như gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sasso. Trong đó có gà Lương Phượng có xuất xứ từ bờ sông Lương Phượng tỉnh Triết Giang-Trung Quốc, được nhập vào nước ta từ năm 1996 về Trung tâm giống gia cầm Thụy Phương, Viện chăn nuôi. Gà Lương Phượng có nhiều đặc tính quý như: có khả năng thích nghi cao với điều kiện nóng ẩm, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, thích hợp với các phương thức nuôi nhốt, bán nuôi nhốt và thả vườn rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi và thị hiếu của người tiêu dùng Việt Nam. Thái Nguyên là một trong những tỉnh có tiềm năng chăn nuôi gà rất lớn, khá phát triển.
Rất nhiều giống gà đã và đang được nuôi trên địa bàn, nhằm nuôi giữ giống gốc và đánh giá khả năng sản xuất của các giống này n 2 trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của tỉnh. Trong đó có các giống gà như: gà Lương Phượng, Sasso, ISA-JA57, Sao,…Để giúp người chăn nuôi có thêm cơ sở khoa học trong việc đánh giá về khả năng sản xuất của gà mái Lương Phượng nuôi tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của gà Lương phượng nuôi tại trại giống gia cầm Thịnh Đán, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu yêu cầu của đề tài + Xác định được khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng. + Bản thân được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học về chăn nuôi gia cầm.
+ Tiếp cận và trau dồi thêm những kinh nghiêm thực tiễn. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho ngành khoa học chăn nuôi gia cầm những thông tin cơ bản về tỷ lệ nuôi sống và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng nuôi tại Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Người chăn nuôi biết thêm thông tin sẽ giúp cho họ chăn nuôi gà đẻ bố mẹ Lương Phượng được tốt hơn.
n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm chung về gia cầm - Ngoại hình: Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm. Đó là những đặc điểm bên ngoài của vật nuôi có thể quan sát được như: màu lông, da, hình dáng, mào tích.Các đặc điểm về ngoại hình đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
+ Sự phát triển của lông là dẫn suất của da, thể hiện đặc điểm của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ được thay thế bằng bộ lông cố định. Tốc độ mọc lông là biểu hiện mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ tới cường độ sinh trưởng. Theo Brandsch H và Bichelh (1978) [20], gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh.
Màu lông do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào. Màu sắc da lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng con giống. Màu sắc da lông là một chỉ tiêu cho chọn lọc. Thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần.
Màu sắc da lông do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc, Đặng Hữu Lanh và CTV(1999) [6]. Các giống gia cầm khác nhau thì có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogene) trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm nipocrom n 4 (caorotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng.
+ Đầu: Cấu tạo của xương đầu coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu của gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết. + Mỏ và chân: Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (stratumcorneum). Mỏ phải ngắn và chắc chắn.
Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao. Màu sắc của mỏ có nhiều loại: vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hơp với màu của chân. Chân gia cầm có 4 ngon, rất ít có 5 ngón, Trần Kiên và Trần Hồng Việt (1998) [5].
Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn ngón và da. Chân thường có vuốt và cựa, cựa thường dùng để cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài, Trần Thị Nguyệt Thu (1999) [15]. Gà có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm. + Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái.
Mào rất đa dạng về kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống gà. Mào là dẫn suất của da. Theo Phan Cự Nhân (1971) [8], khi có mặt của gen Ab mào sẽ có màu hoa hồng, gen aB sẽ có dạng mào nụ, gen ab sẽ có dạng mào cờ. Ở gà trống sự phát triển của mào tích sẽ phản ánh sư thành thục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu là mào tích phát triển không rõ là dấu hiệu xấu đến khả năng sinh sản.
- Hình dáng kích thước chiều đo cơ thể n 5 Tùy vào mục đích sử dụng các giống gia cầm được chia thành 3 loại hình: hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dang cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật. Gà chuyên trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác. Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất của gia cầm Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gia cầm, các nhà khoa học không những nghiên cứu về đặc điểm di truyền mà còn nghiên cứu đến các yếu tố ngoại cảnh tác động lên tính trạng đó.
Bản chất di truyền các tính trạng sản xuất: Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng suất của gia cầm như: Sinh trưởng, sinh sản, cho lông, cho trứng, cho thịt … phần lớn đều là những tính trạng số lượng (Quantitative Character) và do các gen nằm trên cùng nhiễm sắc thể (NST) quy định. Phần lớn sự thay đổi trong quá trình tiến hóa của sinh vật cũng là sự thay đổi của các tính trạng số lượng. Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau về mức độ giữa các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác về chủng loại. Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo.
Các tính trạng số lượng được quy định bởi nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp mới được biểu hiện hoàn toàn. Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [12] thì giá trị đo lường của tính trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của cá thể đó. Các giá trị liên quan tới kiểu gen (Genotypic value) và giá trị có liên hệ với môi trường là sự sai lệch môi trường (Environmental deviation). Như vậy kiểu gen quy định một giá trị nào đó của kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc n 6 hướng khác.
Quan hệ đó được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình G: Là giá trị kiểu gen E: Là sai lệch môi trường Nói cách khác: Trong những điều hiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau. Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi. Thông qua việc nắm các yếu tố di truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra các giống mới theo hướng sản xuất khác nhau.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, nó có hệ số di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn. Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực,. Để nâng cao năng lực sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh trưởng lớn hơn.
Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản bao gồm: khả năng đẻ trứng, tỉ lệ trứng cho phôi, tỉ lệ ấp nở, tỉ lệ nuôi sống của gà. Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả). n 7 Sức sống và khả năng kháng bệnh: trong cơ thể gia cầm có hệ thống miễn dịch hoàn hảo gồm tủy xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách .