Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam trong những thập kỷ gần đây giữ vai trò quan trọng trong việc cung ứng nguồn protein động vật (thịt, trứng) cho nhu cầu tiêu dùng nội địa. Nhằm nâng cao chất lượng thịt phù hợp với thị hiếu ưa chuộng thịt gà chắc, thơm ngon, phương thức nuôi thả vườn và bán chăn thả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nhập nội nhiều tổ hợp giống gia cầm lông màu nổi tiếng như Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sasso. Trong đó, giống gà Lương Phượng có nguồn gốc từ vùng sông Lương Phượng, thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (vốn có xuất xứ từ Triết Giang, Trung Quốc), được Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương và Viện Chăn nuôi nhập về Việt Nam từ năm 1989 - 1996. Đây là giống gà thịt lông màu có khả năng thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, kháng bệnh cao, chất lượng thịt tốt và nuôi được theo nhiều phương thức khác nhau.

Tại tỉnh Thái Nguyên, tiềm năng phát triển chăn nuôi gia cầm tập trung và gia trại là rất lớn. Việc nuôi giữ giống gốc và khảo sát các chỉ tiêu sản xuất của gà Lương Phượng trong điều kiện khí hậu nóng ẩm của địa phương là cơ sở quan trọng giúp người chăn nuôi chủ động về con giống và tối ưu hóa quy trình kỹ thuật. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ma Văn Duy (chuyên ngành Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên), dưới sự hướng dẫn của GS. Từ Quang Hiển, thực hiện đề tài nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  1. Xác định được khả năng sản xuất trứng của gà Lương Phượng nuôi tại Trại giống gia cầm Thịnh Đán, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Bản thân người học được làm quen với công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chăn nuôi gia cầm.
  3. Tiếp cận và trau dồi các kinh nghiệm thực tiễn về kỹ thuật chăn nuôi và thú y tại cơ sở sản xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà sinh sản Lương Phượng bố mẹ giai đoạn từ 21 đến 38 tuần tuổi.
  • Không gian nghiên cứu: Trại giống gia cầm Thịnh Đán, thuộc Trung tâm giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/07/2014 đến ngày 15/12/2014 (vụ hè – thu).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý di truyền học số lượng và sinh lý học sinh sản ở gia cầm:

  • Mô hình kiểu hình di truyền số lượng: $P = G + E$, trong đó giá trị kiểu hình ($P$) của các tính trạng năng suất (sinh trưởng, sản lượng trứng, tỷ lệ nuôi sống) được quy định bởi giá trị kiểu gen ($G$) phối hợp với các sai lệch môi trường ($E$) như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ và chiếu sáng (Nguyễn Văn Thiện, 1995).
  • Cơ sở sinh học về sức sản xuất trứng: Quá trình thành thục sinh dục, chu kỳ đẻ, sản lượng trứng và chất lượng trứng gia cầm dựa trên các nghiên cứu của Brandsch và Bichel (1978), Card (1977), Chambers (1990) và Bùi Quang Tiến (2005). Các chỉ tiêu chất lượng trứng gồm hình thái quả trứng (chỉ số hình thái), cấu trúc vỏ, chất lượng lòng trắng (đơn vị Haugh - HU) và chỉ số lòng đỏ.
  • Giống gà Lương Phượng: Các đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản của đàn bố mẹ (khối lượng 20 tuần tuổi, năng suất trứng/mái/năm, mức tiêu thụ thức ăn) dựa trên khảo sát thích nghi của Viện Chăn nuôi và nghiên cứu của Vũ Ngọc Sơn (1999) tại Hà Tây.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai như sau:

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Theo dõi trực tiếp trên đàn gà gồm 100 gà mái và 13 gà trống Lương Phượng từ 21 đến 38 tuần tuổi. Đàn gà được nuôi theo phương thức nhốt hoàn toàn trong điều kiện chuồng hở. Chế độ dinh dưỡng sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh CP 9624 (CP 924) dành cho gà đẻ theo quy trình kỹ thuật của Viện Chăn nuôi Quốc gia.
  • Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:
    • Tỷ lệ nuôi sống (%): Theo dõi tình trạng sức khỏe hàng ngày, tính tỷ lệ sống theo tuần và cộng dồn.
    • Khối lượng cơ thể: Cân 35% số gà mái và 100% số gà trống lúc 21 tuần tuổi và 38 tuần tuổi bằng cân đồng hồ Nhơn Hòa, cân vào buổi sáng sớm trước khi cho ăn.
    • Tuổi đẻ: Xác định tuổi đẻ bói (ngày đẻ quả trứng đầu tiên), tuổi đẻ 5% (thành thục sinh dục của đàn), tuổi đẻ 25%, 50% và tuổi đạt tỷ lệ đẻ cao nhất.
    • Năng suất và tỷ lệ đẻ: Thu nhặt trứng 2 lần/ngày (10 giờ và 16 giờ), loại bỏ trứng dập vỡ, tính toán tỷ lệ đẻ (%) và sản lượng trứng bình quân/mái.
    • Tiêu thụ và tiêu tốn thức ăn: Cân định lượng thức ăn ăn vào hàng ngày của gà mái và gà trống; tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng và 10 quả trứng giống.
    • Đánh giá chất lượng trứng giống: Kiểm tra khối lượng, hình dạng, soi trứng kiểm tra phôi ở ngày ấp thứ 9, 13, 18 và tỷ lệ ấp nở.
  • Nguồn dữ liệu và xử lý số liệu: Số liệu thực tế ghi chép hàng ngày tại trại, được xử lý thống kê sinh học theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2002) bằng phần mềm Microsoft Excel, tính các tham số: giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số trung bình ($m_x$) và hệ số biến dị ($CV%$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày lý do chọn đề tài dựa trên nhu cầu thực tế về nguồn thực phẩm gia cầm chất lượng cao tại Việt Nam và tiềm năng chăn nuôi gà Lương Phượng tại Thái Nguyên. Tác giả xác định rõ ba mục tiêu của khóa luận (khảo sát khả năng sản xuất trứng, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học và tích lũy kinh nghiệm thực tế), đồng thời nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dữ liệu về gà Lương Phượng tại địa phương và ý nghĩa thực tiễn hỗ trợ kỹ thuật cho người chăn nuôi gia cầm sinh sản.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở khoa học về gia cầm: đặc điểm ngoại hình (lông, đầu, mỏ, chân, mào, tích); bản chất di truyền của các tính trạng số lượng; sức sống, hệ thống đáp ứng miễn dịch và khả năng chuyển hóa thức ăn. Chương cũng phân tích chi tiết các chỉ tiêu sinh sản (tuổi đẻ đầu, sản lượng trứng, tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng) và các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố bên trong (giống, tuổi, sự thay lông) và yếu tố bên ngoài (nhiệt độ, ẩm độ, mùa vụ, chế độ chiếu sáng 12-16 giờ/ngày, dinh dưỡng với tỷ lệ Ca/P là 5/1).

Tác giả tổng quan nguồn gốc gà Lương Phượng, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tiêu chuẩn của giống và điểm lại tình hình nghiên cứu trong nước (các nghiên cứu tại Thụy Phương, Ba Vì, kết quả của Vũ Ngọc Sơn năm 1999 về gà Lương Phượng tại Hà Tây với tuổi đẻ 50% ở 175 ngày, tỷ lệ đẻ đỉnh cao 69,63%, tiêu tốn thức ăn 3,34 kg/10 quả trứng) cùng các nghiên cứu quốc tế về ảnh hưởng của vi chất, đặc biệt là bổ sung vitamin C đối với sản lượng và chất lượng vỏ trứng gia cầm trong điều kiện stress nhiệt.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng khảo sát là 100 gà mái và 13 gà trống Lương Phượng nuôi tại Trại giống gia cầm Thịnh Đán từ ngày 01/07/2014 đến ngày 15/12/2014. Tác giả mô tả sơ đồ bố trí thí nghiệm (bảng 3.1), phương thức nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng hở, thức ăn hỗn hợp CP và quy trình nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn của Viện Chăn nuôi. Thiết lập công thức tính toán cụ thể cho 7 nhóm chỉ tiêu kỹ thuật chính và phương pháp xử lý thống kê sinh học trên Excel.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này được chia thành hai nội dung trọng tâm:

  1. Nội dung phục vụ sản xuất: Mô tả quy trình kỹ thuật tác giả đã tham gia trực tiếp tại cơ sở:
    • Công tác chuẩn bị chuồng trại: Tiêu độc khử trùng bằng Benkocid 0,5 - 1%, quét vôi nền tường, để trống chuồng 10 - 15 ngày.
    • Công tác chọn giống và ấp trứng: Tiêu chuẩn chọn lọc gà mái đẻ; tiêu chuẩn chọn trứng ấp (khối lượng 40 - 60 g, soi đèn kiểm tra buồng khí và lòng đỏ, xông sát trùng bằng thuốc tím kết hợp Formol trong 15 - 20 phút); tiêu chuẩn chọn gà con loại 1 lúc mới nở.
    • Công tác nuôi dưỡng: Kỹ thuật nuôi gà hậu bị từ 7 tuần tuổi đến đẻ bói bằng thức ăn CP 0521 (19% protein, ME 2900 kcal/kg), áp dụng phương pháp khống chế định lượng thức ăn theo thể trọng (lệch 50 g thể trọng thì điều chỉnh tăng/giảm 5 g thức ăn/gà/ngày); kỹ thuật nuôi gà đẻ bằng thức ăn CP 9624 (15% protein, ME 2550 kcal/kg, Ca 3,4 - 3,8%), bố trí đệm lót dày 10 - 15 cm và ổ đẻ trước 2 tuần.
    • Công tác thú y: Quy trình dùng vắc-xin; phác đồ điều trị bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD do Mycoplasma gallisepticum) bằng Anti-CRD (2 g/lít), phối hợp Bio-Enrafloxacin 10% (1 ml/2 lít) khi ghép E. coli; phác đồ trị bệnh Cầu trùng (Coccidiosis) thể manh tràng và ruột non bằng Hancoc (1,5 - 2 ml/lít) hoặc ESB 32%, Anti coccidae kết hợp Hanvit C và K.
  2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm:
    • Tỷ lệ nuôi sống: Tỷ lệ nuôi sống tích lũy đến 38 tuần tuổi đạt 96,00% ở gà mái và 92,31% ở gà trống (bảng 4.1).
    • Khối lượng cơ thể: Khối lượng lúc 21 tuần tuổi đạt 1877,14 g (mái) và 2707,69 g (trống); đến 38 tuần tuổi đạt 2337,14 g (mái) và 3238,46 g (trống) (bảng 4.2).
    • Tuổi đẻ: Đẻ bói lúc 141 ngày tuổi (tuần 20); đạt tỷ lệ đẻ 5% lúc 147 ngày tuổi (tuần 21); đạt 25% lúc 161 ngày tuổi; 50% lúc 175 ngày tuổi và đạt đỉnh cao nhất lúc 217 ngày tuổi (tuần 31 - 32) (bảng 4.3).
    • Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng: Tổng sản lượng trứng đẻ ra từ tuần 21 đến tuần 38 đạt 6.511 quả, số trứng giống đủ tiêu chuẩn đạt 5.480 quả (tỷ lệ trứng giống bình quân đạt trên 90 - 95% từ tuần 26 trở đi). Tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao nhất ở tuần 32 đạt 73,21% (492 quả) và tuần 31 đạt 71,58% (486 quả) (bảng 4.4).
    • Tiêu thụ và tiêu tốn thức ăn: Lượng thức ăn ăn vào bình quân của gà mái dao động 127,71 - 133,77 g/con/ngày; gà trống dao động 137,36 - 159,34 g/con/ngày (bảng 4.5). Tiêu tốn thức ăn bình quân cho 10 quả trứng trong giai đoạn sản xuất (tuần 25 - 38) là 2,45 kg và cho 10 quả trứng giống là 2,61 kg (bảng 4.6 và 4.7).
    • Chi phí thức ăn: Chi phí thức ăn sản xuất 10 quả trứng đẻ ra là 29.348,57 đồng; cho 10 quả trứng giống là 31.328,57 đồng (bảng 4.7).

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khẳng định việc thực hiện đầy đủ các mục tiêu đề ra về mặt khoa học kỹ thuật và thực tiễn phục vụ sản xuất tại trại giống, hoàn thành chương trình thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Chăn nuôi Thú y.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về khả năng sinh sản của đàn gà Lương Phượng nuôi nhốt hoàn toàn trong điều kiện chuồng hở tại tỉnh Thái Nguyên:

Nhóm chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Kết quả thực nghiệm ghi nhận
Quy mô đàn theo dõi ban đầu (21 tuần tuổi) Con 100 mái, 13 trống
Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn đến 38 tuần tuổi % Mái: 96,00% ; Trống: 92,31%
Khối lượng lúc 21 tuần tuổi Gam Mái: 1877,14 ± 0,24 ($CV = 7,43%$)
Trống: 2707,69 ± 0,28 ($CV = 3,52%$)
Khối lượng lúc 38 tuần tuổi Gam Mái: 2337,14 ± 0,26 ($CV = 6,49%$)
Trống: 3238,46 ± 0,42 ($CV = 4,46%$)
Tuổi đẻ quả trứng đầu (đẻ bói) Ngày tuổi 141 ngày tuổi (tuần thứ 20)
Tuổi thành thục sinh dục (tỷ lệ đẻ 5%) Ngày tuổi 147 ngày tuổi (tuần thứ 21)
Tuổi đẻ đạt 50% Ngày tuổi 175 ngày tuổi (tuần thứ 25)
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ cao nhất Ngày tuổi 217 ngày tuổi (tuần thứ 31 - 32)
Tỷ lệ đẻ đỉnh cao % 73,21% (tuần thứ 32)
Tổng sản lượng trứng (tuần 21 - 38) Quả 6.511 quả (trứng giống: 5.480 quả)
Tiêu thụ thức ăn bình quân hàng ngày g/con/ngày Mái: 127,71 - 133,77
Trống: 137,36 - 159,34
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (tuần 25 - 38) Kg 2,45 kg
Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng giống (tuần 25 - 38) Kg 2,61 kg
Chi phí thức ăn cho 10 quả trứng đẻ ra VNĐ 29.348,57 đồng
Chi phí thức ăn cho 10 quả trứng giống VNĐ 31.328,57 đồng

Các giải pháp và đóng góp kỹ thuật từ nghiên cứu:

  • Giải pháp kiểm soát sinh trưởng hậu bị: Đàn gà bước vào tuần 21 đạt khối lượng chuẩn theo khuyến cáo của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (chuẩn mái 1800 - 2000 g, trống 2500 - 2800 g), nhờ duy trì nghiêm ngặt kỹ thuật cân khối lượng định kỳ và điều chỉnh thức ăn (tăng/giảm 5 g thức ăn/ngày cho mỗi mức sai lệch 50 g thể trọng).
  • Quản lý chiếu sáng và chuồng trại: Áp dụng nguyên tắc không tăng cường độ và thời gian chiếu sáng trong giai đoạn hậu bị, không giảm chiếu sáng trong giai đoạn đẻ; lót đệm dày 10 - 15 cm và đặt ổ đẻ trước 2 tuần giúp giảm thiểu tỷ lệ trứng đẻ nền và nứt vỡ.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khẳng định tính thích nghi cao của gà Lương Phượng tại Thái Nguyên với tỷ lệ sống đạt 96%. So với nghiên cứu của Vũ Ngọc Sơn (1999) tại Hà Tây (tỷ lệ đẻ đỉnh cao 69,63%, tiêu tốn thức ăn 3,34 kg/10 quả trứng), kết quả tại Thịnh Đán đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao hơn (73,21%) và tiêu tốn thức ăn giai đoạn đẻ thấp hơn (2,45 kg/10 quả trứng), chứng minh tính khả thi trong việc nuôi giữ và nhân giống gà Lương Phượng bố mẹ tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực nghiệm:

  • Thời gian theo dõi chỉ kéo dài 18 tuần (từ tuần 21 đến tuần 38 tuổi), tương ứng với giai đoạn đầu và đỉnh cao của chu kỳ đẻ, chưa theo dõi được toàn bộ chu kỳ khai thác trứng thương phẩm kéo dài đến 72 - 76 tuần tuổi để đánh giá sức bền đẻ trứng về cuối chu kỳ.
  • Dữ liệu về tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ trứng có phôi và tỷ lệ gà con loại 1 chưa được hoàn thiện đầy đủ số liệu thống kê chi tiết do hạn chế về thời gian thực tập tại cơ sở.
  • Thí nghiệm được thực hiện trên quy mô đàn 100 gà mái và 13 gà trống trong điều kiện chuồng hở, chịu tác động trực tiếp của điều kiện thời tiết vụ hè - thu tại Thái Nguyên.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng thời gian theo dõi đến hết chu kỳ đẻ (76 tuần tuổi) nhằm xác định chính xác tổng sản lượng trứng/mái/năm và độ suy giảm tỷ lệ đẻ.
  • Bổ sung các chỉ tiêu thực nghiệm chuyên sâu về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ phôi chết qua các giai đoạn ấp (ngày 9, 13, 18), tỷ lệ ấp nở/trứng có phôi và chất lượng gà con giống thương phẩm nở ra.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm gia cầm sinh sản, công thức tính toán các chỉ tiêu năng suất trứng và phương pháp xử lý số liệu thống kê sinh học bằng phần mềm Excel.
  • Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi gia cầm giống: Cung cấp định mức tiêu thụ thức ăn chi tiết theo tuần tuổi (bảng 4.5), quy trình điều chỉnh lượng ăn để khống chế thể trọng gà hậu bị và định mức tiêu tốn thức ăn phục vụ lập dự toán kinh tế cho đàn gà giống Lương Phượng.
  • Bác sĩ thú y cơ sở: Tham khảo các phác đồ điều trị thực tế đối với bệnh hô hấp phức hợp (CRD ghép E. coli) và bệnh Cầu trùng (manh tràng, ruột non) kèm liều lượng và hoạt chất cụ thể đã được áp dụng hiệu quả tại trại.

Câu hỏi thường gặp

Khối lượng gà Lương Phượng tại thời điểm 21 tuần tuổi đạt bao nhiêu và có đáp ứng tiêu chuẩn giống không?
Khối lượng bình quân lúc 21 tuần tuổi đạt $1877,14 \pm 0,24\text{ g}$ ở gà mái ($CV = 7,43%$) và $2707,69 \pm 0,28\text{ g}$ ở gà trống ($CV = 3,52%$). Kết quả này nằm hoàn toàn trong phạm vi khuyến cáo của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (gà mái từ 1800 - 2000 g, gà trống từ 2500 - 2800 g), cho thấy đàn hậu bị đồng đều và phát dục tốt.

Tuổi đẻ bói và tuổi thành thục sinh dục của đàn gà thí nghiệm được xác định vào thời gian nào?
Gà bắt đầu đẻ bói vào ngày thứ 141 (tuần tuổi thứ 20). Đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5% (mốc quy định thành thục sinh dục) vào ngày thứ 147 (tuần tuổi thứ 21), đạt tỷ lệ đẻ 25% ở ngày 161 và đạt 50% ở ngày 175 (tuần thứ 25).

Tỷ lệ đẻ cao nhất của đàn gà đạt được ở tuần tuổi nào và sản lượng tương ứng là bao nhiêu?
Đàn gà đạt tỷ lệ đẻ cao nhất vào tuần tuổi thứ 32 với tỷ lệ đẻ đạt 73,21% (sản lượng 492 quả trứng trong tuần), trước đó tuần 31 đạt 71,58% (486 quả). Đây là đỉnh đẻ của đàn trong giai đoạn theo dõi từ tuần 21 đến tuần 38.

Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng trong giai đoạn 25 - 38 tuần tuổi là bao nhiêu?
Trong giai đoạn sản xuất ổn định từ tuần 25 đến tuần 38, tiêu tốn thức ăn bình quân cho 10 quả trứng đẻ ra là 2,45 kg (chi phí 29.348,57 đồng) và cho 10 quả trứng giống đủ tiêu chuẩn là 2,61 kg (chi phí 31.328,57 đồng).

Phác đồ điều trị bệnh hen gà (CRD) và Cầu trùng được tác giả áp dụng tại trại như thế nào?
Đối với bệnh CRD, sử dụng Anti-CRD liều 2 g/lít nước liên tục 3 - 5 ngày kết hợp B-complex, vitamin K, glucose; khi ghép E. coli bổ sung Bio-Enrafloxacin 10% liều 1 ml/2 lít nước. Đối với bệnh Cầu trùng, sử dụng Hancoc (1,5 - 2 ml/lít nước trong 4 - 5 ngày, nghỉ 3 ngày rồi dùng tiếp 5 ngày) hoặc ESB 32%, Anti coccidae kết hợp Hanvit C và K để cầm máu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Ma Văn Duy đã đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sản xuất trứng của đàn gà Lương Phượng bố mẹ giai đoạn 21 - 38 tuần tuổi tại Trại giống gia cầm Thịnh Đán, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả thực nghiệm khẳng định gà Lương Phượng có khả năng thích nghi tốt trong điều kiện nuôi nhốt tại địa phương với tỷ lệ sống đạt 96,00%, tỷ lệ đẻ đỉnh cao đạt 73,21% và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,45 kg. Công trình cung cấp các dẫn liệu kỹ thuật và kinh tế thực tế, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác nhân giống gia cầm lông màu tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.