Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đà điểu (Struthionidae) là loài chim chạy có kích thước lớn nhất trong lớp Chim, sở hữu khả năng thích ứng cao với các điều kiện khí hậu biến thiên rộng, có sức đề kháng tốt với nhiều bệnh gia cầm phổ biến, tính tạp ăn và mang lại giá trị kinh tế đa dạng từ thịt, da, trứng đến lông. Thị trường tiêu thụ thịt đà điểu tại nhiều quốc gia, điển hình như khu vực châu Âu, ghi nhận nhu cầu vượt khả năng cung ứng từ 3 đến 4 lần. Tại Việt Nam, ngành chăn nuôi đà điểu bắt đầu hình thành từ năm 1996 thông qua việc nhập 100 trứng từ Zimbabwe (ấp nở thành công 38 con) và tiếp tục nhập 150 con giống gốc từ Australia vào năm 1998 bởi Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương. Từ các đàn giống gốc, mô hình chăn nuôi này dần được mở rộng sang nhiều tỉnh thành, bao gồm các tỉnh miền núi phía Bắc.

Tỉnh Bắc Kạn thuộc vùng nội địa Đông Bắc, có quỹ đất đồi rừng và đồng cỏ lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các mô hình trang trại quy mô. Trại chăn nuôi đà điểu thuộc Công ty TNHH Hoàng Giang tại xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông được thành lập từ năm 2009 trên diện tích 4 ha ven sông Cầu, áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn. Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi sinh sản đà điểu tại địa bàn miền núi còn đối mặt với nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật, đặc biệt là tỷ lệ thụ tinh, chất lượng trứng giống và tỷ lệ ấp nở nhân tạo trong điều kiện khí hậu á nhiệt đới có mùa đông lạnh, ẩm độ biến động.

Đề tài khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết ba mục tiêu cụ thể sau:

  1. Khảo sát khả năng ấp nở của trứng đà điểu theo tuổi của đàn đà điểu mái sinh sản.
  2. Khảo sát khả năng ấp nở của trứng đà điểu phân theo các dải khối lượng trứng khác nhau.
  3. Khảo sát khả năng ấp nở của trứng đà điểu theo chỉ số hình thái của quả trứng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là đàn đà điểu mái sinh sản và trứng đà điểu được thu nhận tại cơ sở. Phạm vi không gian được thực hiện tại Trại đà điểu xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn thuộc Công ty TNHH Hoàng Giang. Phạm vi thời gian theo dõi, thu thập số liệu kéo dài từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa hệ thống phân loại học động vật xác định đà điểu thuộc Lớp Chim (Aves), Bộ Chim chạy (Struthioniformes), Phân bộ Struthiones, Họ Struthionidae. Về đặc điểm sinh học, đà điểu trưởng thành có thể chịu được biên độ nhiệt từ -30°C đến 40°C; đà điểu trống đứng cao 2,1 - 2,75 m, nặng 120 - 145 kg; đà điểu mái cao 1,75 - 1,90 m, nặng 95 - 125 kg. Trong điều kiện trang trại thuần hóa, đà điểu mái có chu kỳ khai thác sinh sản kéo dài 35 - 40 năm, đạt đỉnh cao năng suất ở năm tuổi thứ 5 - 7; mùa vụ sinh sản tại Việt Nam tập trung từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 hoặc tháng 9 năm sau, nghỉ đẻ thay lông từ 3 đến 3,5 tháng.

Kỹ thuật ấp trứng đà điểu dựa trên quy trình ấp nhân tạo với các thông số nghiêm ngặt:

  • Bảo quản trứng: Duy trì nhiệt độ phòng 18,3°C (65°F), ẩm độ tương đối 55 - 60%, xếp trứng nghiêng góc 45° hoặc nằm ngang, đảo 1 - 2 lần/ngày.
  • Xử lý khử trùng trứng: Xông sát trùng buồng ấp/trứng bằng hỗn hợp thuốc tím (KMnO₄: 8,5 g), dung dịch formalin (17 ml) và nước (17 ml) tính trên 1 m³ buồng xông trong thời gian 30 phút.
  • Chế độ máy ấp: Đối với máy ấp đa kỳ, nhiệt độ giai đoạn ấp (1 - 38 ngày) đặt ở 36,3 - 36,5°C, giai đoạn nở (39 - 42 ngày) đặt ở 35,5 - 36,0°C. Ẩm độ giai đoạn ấp duy trì mức thấp 20 - 25%, giai đoạn nở nâng lên 45 - 60%. Trứng được đảo định kỳ 2 - 3 giờ/lần (8 - 12 lần/ngày). Lịch soi trứng thực hiện vào 3 mốc: đợt 1 ở ngày 10 - 11, đợt 2 ở ngày 22 - 23 và đợt 3 chuyển máy nở ở ngày 38 - 39.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập chỉ tiêu:

  • Bố trí thí nghiệm: Theo dõi năng suất sinh sản trên đàn đà điểu mái 5 năm tuổi (quy mô 57 con) và theo dõi kết quả ấp nở trên 177 quả trứng đà điểu đủ tiêu chuẩn giống.
  • Định mức khẩu phần thức ăn: Giai đoạn hậu bị sử dụng 1,3 - 1,4 kg thức ăn tinh kết hợp 1,0 - 1,5 kg thức ăn xanh/con/ngày; giai đoạn đẻ trứng cung cấp 1,6 - 1,7 kg thức ăn tinh kết hợp 1,5 - 2,0 kg thức ăn xanh/con/ngày.
  • Phương pháp đo đạc: Sử dụng cân điện tử độ chính xác ±0,01 g để xác định khối lượng trứng, khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ trứng; sử dụng thước kẹp độ chính xác ±0,1 mm để đo trục dài ($D$), trục ngắn ($d$) của trứng để tính chỉ số hình thái ($D/d$) và đo độ dày vỏ trứng.
  • Nguồn dữ liệu và xử lý: Thu thập trực tiếp từ sổ theo dõi phối giống, nhật trình ấp nở và sổ theo dõi dịch bệnh tại trại đà điểu Bạch Thông; số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần mềm Microsoft Excel 2003.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở

Nội dung phần này phản ánh kết quả khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông cùng quá trình trực tiếp tham gia lao động kỹ thuật tại trại chăn nuôi của Công ty TNHH Hoàng Giang.

Về điều kiện cơ sở: Xã Mỹ Thanh có diện tích tự nhiên 3323,59 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 2260,10 ha (chiếm phần lớn diện tích), đất nông nghiệp chỉ có 248,80 ha, địa hình chia cắt phức tạp với độ dốc trung bình 26 - 30°. Cơ cấu kinh tế xã dựa vào nông lâm nghiệp là chính (chiếm 92%), tỷ lệ hộ nghèo còn cao (21,97%). Trại đà điểu được quy hoạch với diện tích 4 ha, bố trí hệ thống 34 ô chuồng nuôi nhốt hoàn toàn, cách ly với khu dân cư bởi sông Cầu và dãy núi tự nhiên. Đàn đà điểu tại cơ sở có sự phát triển liên tục qua 3 năm:

Năm Đà điểu trống (con) Đà điểu mái sinh sản (con) Đà điểu thịt và hậu bị (con) Tổng đàn (con)
2011 19 57 0 76
2012 19 57 84 160
2013 19 57 204 280

Về công tác chuyên môn phục vụ sản xuất:

  • Công tác giống: Đà điểu trống được tuyển chọn có cơ quan sinh dục dài trung bình 25 cm, cong về phía trái, mỏ và thân có màu đỏ tươi; tỷ lệ ghép đàn là 1 trống phối 2 - 3 mái; thời điểm giao phối tập trung vào buổi sáng (6 - 9 giờ) và buổi chiều (14 - 16 giờ).
  • Công tác thú y và phòng trị bệnh: Tiêm phòng vắc-xin Newcastle đạt 250/250 con an toàn (100%); điều trị tiêu chảy khỏi 4/5 con (80%); xử lý ngoại khoa các ca chấn thương rách da cơ học trên 10 cm bằng Novocain gây tê cục bộ, rắc 1 g bột Streptomycin, khâu kín mũi đơn 5 - 7 cm và tiêm Penicillin liều 1 triệu UI/50 kg thể trọng/lần, đạt kết quả khỏi 5/7 con (71,4%); can thiệp hội chứng ăn vật lạ (sỏi, que, kim loại) bằng Parapin, Metamuxyl kết hợp bù điện giải; hoàn thành vệ sinh sát trùng 34 ô chuồng và chăm sóc nuôi dưỡng 280 con an toàn 100%.

Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học

Chuyên đề đi sâu khảo sát các chỉ tiêu sinh học sinh sản và khả năng ấp nở nhân tạo của trứng đà điểu tại trại.

Đặc điểm thành thục sinh dục (theo dõi trên mẫu $N = 10$ con):

  • Con trống đạt tuổi phát dục lúc 29,7 tháng tuổi, thể trọng khi biết đạp mái đạt 117,6 ± 0,5 kg.
  • Con mái đạt tuổi phát dục lúc 24,4 tháng tuổi, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 24,5 tháng tuổi với thể trọng đạt 99,2 ± 0,5 kg. Sự chênh lệch tuổi thành thục sinh dục giữa trống và mái từ 5 đến 6 tháng là nguyên nhân khiến trứng đẻ bói đầu vụ thường không có phôi nếu ghép trống mái cùng lứa tuổi.

Năng suất sinh sản của đàn mái 5 năm tuổi:

  • Khảo sát trên đàn 57 đà điểu mái trong giai đoạn 3,5 tháng (từ giữa tháng 2 đến cuối tháng 5/2014) ghi nhận tổng số 300 quả trứng được đẻ ra.
  • Năng suất bình quân đạt 5,26 quả/mái; tỷ lệ đẻ trung bình đạt 9,23%; khối lượng trứng trung bình là 1257,4 ± 0,2 g.
  • Về tiêu tốn thức ăn: Sản xuất 1 quả trứng đẻ ra tiêu tốn 7 - 9 kg thức ăn tinh và 8 - 11 kg thức ăn xanh; để sản xuất 1 quả trứng giống đạt chuẩn đưa vào ấp đòi hỏi tiêu tốn 10 - 13 kg thức ăn tinh và 12 - 15 kg thức ăn xanh.

Tỷ lệ các thành phần cấu tạo của quả trứng ($N = 10$ quả):

  • Khối lượng lòng trắng chiếm tỷ lệ lớn nhất: 55,7 ± 0,02%.
  • Khối lượng lòng đỏ chiếm: 24,5 ± 0,02%.
  • Khối lượng vỏ trứng chiếm: 19,8 ± 0,02%.

Kết quả ấp trứng chung trên đàn theo dõi: Trong tổng số 177 quả trứng đưa vào ấp, qua soi kiểm tra phát hiện 81 quả có phôi (tỷ lệ trứng có phôi đạt 45,76%). Số đà điểu con nở ra thực tế là 42 con, tương ứng tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 51,85% và tỷ lệ nở/tổng trứng ấp đạt 23,73%. Trong số 42 con non nở ra, có 31 con đạt tiêu chuẩn giống loại I (đạt tỷ lệ 73,81%).

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu làm rõ tác động mang tính quyết định của khối lượng trứng và chỉ số hình thái đến khả năng ấp nở nhân tạo của trứng đà điểu tại địa bàn nghiên cứu:

Bảng tổng hợp chỉ tiêu ấp nở theo khối lượng trứng:

Khối lượng trứng (g) Số trứng vào ấp (quả) Tỷ lệ trứng có phôi (%) Số con nở (con) Tỷ lệ nở / phôi (%) Tỷ lệ nở / trứng ấp (%) Số con loại I (con) Tỷ lệ con loại I (%)
900 - < 1100 16 18,75 0 0,00 0,00 0 0,00
1100 - < 1300 103 53,40 31 56,36 30,10 24 77,42
1300 - < 1500 58 39,66 11 47,83 18,97 7 63,64
Tổng / Bình quân 177 45,76 42 51,85 23,73 31 73,81

Số liệu cho thấy nhóm trứng có dải khối lượng từ 1100 đến dưới 1300 g chiếm số lượng lớn nhất (58,19%), đồng thời cho các chỉ số sinh học tối ưu: tỷ lệ phôi cao nhất (53,40%), tỷ lệ nở/trứng ấp đạt cao nhất (30,10%) và tỷ lệ con nở loại I đạt 77,42%. Nhóm trứng nhỏ (900 - < 1100 g) có tỷ lệ phôi rất thấp (18,75%) và không có trứng nào nở thành con. Nhóm trứng lớn (1300 - < 1500 g) có tỷ lệ nở/trứng ấp chỉ đạt 18,97% và tỷ lệ con loại I giảm xuống 63,64%. Không ghi nhận quả trứng nào có khối lượng dưới 900 g hoặc trên 1500 g.

Bảng tổng hợp chỉ tiêu ấp nở theo chỉ số hình thái trứng ($D/d$):

Chỉ số hình thái ($D/d$) Số trứng vào ấp (quả) Tỷ lệ trứng có phôi (%) Số con nở (con) Tỷ lệ nở / phôi (%) Tỷ lệ nở / trứng ấp (%) Số con loại I (con) Tỷ lệ con loại I (%)
1,0 - 1,2 61 34,43 6 28,57 9,84 2 33,33
1,2 - 1,5 116 51,72 36 60,00 31,03 29 80,56
Tổng / Bình quân 177 45,76 42 51,85 23,73 31 73,81

Chỉ số hình thái của toàn bộ trứng thí nghiệm dao động trong khoảng 1,0 đến 1,5 (không có trứng có chỉ số > 1,5). Nhóm trứng có hình thái elip chuẩn (chỉ số 1,2 - 1,5) chiếm ưu thế với 65,54% tổng số trứng ấp và mang lại hiệu quả vượt trội so với nhóm trứng có hình thái tròn ngắn (chỉ số 1,0 - 1,2): tỷ lệ trứng có phôi đạt 51,72% so với 34,43%; tỷ lệ nở/trứng ấp đạt 31,03% so với 9,84%; và tỷ lệ con non loại I đạt tới 80,56% so với 33,33%.

Về giải pháp và kiến nghị kỹ thuật của tác giả:

  • Trong khâu chọn lọc trứng đưa vào ấp: Cần kiên quyết loại bỏ các quả trứng có khối lượng dưới 1100 g hoặc có hình thái quá tròn (chỉ số $D/d < 1,2$), chỉ ưu tiên đưa vào máy ấp những quả trứng đạt khối lượng từ 1100 đến 1300 g và chỉ số hình thái từ 1,2 đến 1,5 để nâng cao tỷ lệ nở và chất lượng con giống loại I.
  • Trong quản lý phối giống: Khắc phục hiện tượng lệch pha thành thục sinh dục bằng cách bố trí ghép con trống lớn hơn con mái từ 6 tháng đến 1 năm tuổi, tránh ghép trống mái cùng độ tuổi ở lứa đầu dẫn đến hiện tượng trứng không phôi.
  • Đóng góp khoa học: Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về đặc tính cơ cấu trứng, tỷ lệ tiêu tốn thức ăn sinh sản và các tiêu chí tuyển chọn trứng ấp đà điểu trong điều kiện chăn nuôi trang trại thực tế tại vùng núi cao phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế của đợt thực tập tốt nghiệp:

  • Thời gian theo dõi chỉ kéo dài 3,5 tháng (từ giữa tháng 2 đến cuối tháng 5/2014), chưa bao quát hết chu kỳ đẻ trọn vẹn trong năm của đà điểu (thường kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 8 - 9 năm sau).
  • Khảo sát thực nghiệm về năng suất đẻ trứng chỉ tập trung vào một nhóm tuổi cụ thể là đà điểu mái 5 năm tuổi ($N = 57$ con), chưa bố trí được các lô đối chứng song song giữa các năm tuổi sinh sản khác nhau (như năm tuổi thứ 2, 3, 4 hoặc các năm tuổi thoái hóa > 7 năm) để đánh giá đường cong sinh sản toàn diện tại cơ sở.
  • Dung lượng mẫu khảo sát tỷ lệ thành phần hình thái cấu tạo trứng còn hạn chế ($N = 10$ quả).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định: Cần tiếp tục theo dõi khả năng sinh sản của đàn đà điểu qua toàn bộ các tháng của chu kỳ đẻ; mở rộng theo dõi đối chứng năng suất trứng và tỷ lệ ấp nở giữa các nhóm tuổi đà điểu mái khác nhau; đồng thời nghiên cứu hiệu chỉnh vi khí hậu máy ấp (nhiệt độ, ẩm độ thấp, lưu lượng thông khí) theo từng mùa khí hậu đặc thù của miền núi Đông Bắc.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về phương pháp bố trí thí nghiệm theo dõi động vật ngoại lai, các công thức toán học xác định tỷ lệ đẻ, tỷ lệ trứng giống, chỉ số hình thái $D/d$, tỷ lệ lòng trắng, lòng đỏ, vỏ trứng và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ấp nở gia cầm cỡ lớn.
  • Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi đà điểu: Ứng dụng trực tiếp bộ tiêu chuẩn tuyển chọn trứng ấp (khoảng khối lượng tối ưu 1100 - < 1300 g; chỉ số hình thái 1,2 - 1,5); kỹ thuật xông trứng sát trùng bằng KMnO₄ và Formalin; phương pháp xếp trứng nghiêng 45° và chế độ nhiệt ẩm máy ấp đa kỳ/đơn kỳ.
  • Bác sĩ thú y tuyến cơ sở: Tham khảo quy trình khâu phục hồi vết thương rách da ngoại khoa lớn trên đà điểu và phác đồ can thiệp chứng ăn dị vật thường gặp ở các trang trại nuôi nhốt chim chạy.

Câu hỏi thường gặp

1. Tuổi thành thục sinh dục và thể trọng khi bắt đầu sinh sản của đà điểu tại cơ sở được ghi nhận như thế nào?
Khảo sát trên 10 cá thể bố mẹ ghi nhận con trống đạt tuổi phát dục lúc 29,7 tháng tuổi, thể trọng khi biết đạp mái đạt 117,6 ± 0,5 kg; con mái phát dục lúc 24,4 tháng tuổi, đẻ quả trứng đầu tiên ở 24,5 tháng tuổi với thể trọng 99,2 ± 0,5 kg.

2. Tại sao tác giả khuyến cáo nên ghép đà điểu trống lớn tuổi hơn đà điểu mái từ 6 tháng đến 1 năm?
Do đà điểu trống thành thục sinh dục muộn hơn đà điểu mái từ 5 đến 6 tháng. Nếu ghép các cá thể trống mái cùng lứa tuổi ở vụ đầu tiên, con trống chưa hoàn thiện tính dục sẽ dẫn đến việc toàn bộ trứng đẻ bói đầu vụ không được thụ tinh (không có phôi).

3. Nhóm trứng có khối lượng bao nhiêu mang lại hiệu quả ấp nở nhân tạo cao nhất?
Nhóm trứng có khối lượng từ 1100 đến dưới 1300 g cho kết quả tốt nhất: tỷ lệ trứng có phôi đạt 53,40%, tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 56,36%, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp đạt 30,10% và tỷ lệ đà điểu con giống loại I đạt 77,42%. Nhóm dưới 1100 g hoàn toàn không nở được con nào.

4. Hình thái quả trứng tác động như thế nào đến tỷ lệ nở của đà điểu con?
Trứng có chỉ số hình thái $D/d$ từ 1,2 đến 1,5 (dạng elip chuẩn) đạt tỷ lệ nở/trứng ấp 31,03% và tỷ lệ con loại I đạt 80,56%; trong khi nhóm trứng quá tròn có chỉ số $D/d$ từ 1,0 đến 1,2 có tỷ lệ nở/trứng ấp rất thấp (9,84%) và tỷ lệ con loại I chỉ đạt 33,33%.

5. Mức tiêu tốn thức ăn để sản xuất một quả trứng đà điểu giống ở đàn mái 5 năm tuổi là bao nhiêu?
Đà điểu mái 5 năm tuổi tiêu tốn từ 10 đến 13 kg thức ăn tinh và từ 12 đến 15 kg thức ăn xanh để sản xuất ra một quả trứng giống đạt tiêu chuẩn đưa vào ấp (so với mức 7 - 9 kg tinh và 8 - 11 kg xanh cho một quả trứng thương phẩm thông thường).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nông Văn Bằng đã phản ánh toàn diện công tác phục vụ sản xuất và kết quả nghiên cứu khả năng sinh sản của đàn đà điểu tại trại chăn nuôi xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Nghiên cứu chứng minh rõ rệt ảnh hưởng của dải khối lượng trứng và chỉ số hình thái đến tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở nhân tạo cũng như phẩm cấp con giống sơ sinh. Những dẫn liệu thực nghiệm về khoảng khối lượng tối ưu (1100 - < 1300 g), chỉ số hình thái chuẩn (1,2 - 1,5) và độ lệch tuổi ghép phối trống mái cung cấp cơ sở kỹ thuật có giá trị cho việc tổ chức, quản lý quy trình ấp nở đà điểu tại các địa phương có điều kiện sinh thái tương đồng.