phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn đƣợc chia thành 3 Chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng I: Tổng quan tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng II: Thực trạng sử dụng và xu hƣớng biến động lao động, đất đai cho phát triển cây chè tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng III: Định hƣớng và giải pháp sử dụng lao động, đất đai cho phát triển cây chè của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 – 2020. 4 Chƣơng I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CƢ́U 1.1 Tổng quan tài liệu 1.1 Cơ sở lý luận về lao động và đất đai cho phát triển cây chè 1.1 Khái niệm * Lao động nông nghiệp: Trong kinh tế học, lao động được hiểu là yếu tố sản xuất do con người cung cấp.
Nó là một trong những nguồn lực khan hiếm được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội. Lao động bao gồm cả thời gian của con người chi phí trong quá trình sản xuất. Nó vừa là đầu vào thông thường nhất, vừa là đầu vào quan trọng nhất của quá trình sản xuất (Paul. Trong nông nghiệp lao động đƣợc hiểu là tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lƣợng và chất lƣợng của ngƣời lao động.
Số lƣợng lao động bao gồm những ngƣời trong độ tuổi (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55) và những ngƣời trên và dƣới độ tuổi nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nhƣ vậy, về lƣợng của lao động trong nông nghiệp khác ở chỗ, nó không phải chỉ bao gồm những ngƣời trong độ tuổi mà bao gồm cả những ngƣời trên và dƣới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động. Về chất lƣợng bao gồm thể lực và trí lực của ngƣời lao động, cụ thể là trình độ sức khoẻ, trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ học vấn, nghiệp vụ và tay nghề của ngƣời lao động (Đinh Phi Hổ, 2008) * Đất nông nghiệp: Khái niệm về đất nông nghiệp đƣợc thể chế hóa tại Điều 13 - Phân loại đất của Luật Đất đai đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã 5 hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, cho rằng đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai 2003).
Đất cho phát triển cây chè thuộc đất trồng cây lâu năm, là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trƣởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch; kể cả loại cây có thời gian sinh trƣởng nhƣ cây hàng năm nhƣng cho thu hoạch trong nhiều năm; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả và đất trồng cây lâu năm khác. So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm. Tuy nhiên, để cây chè sinh trƣởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt một số yêu cầu nhƣ: nhiều mùn, sâu, chua và thoát nƣớc tốt. Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0.
Độ sâu ít nhất là 80 cm, hệ rễ phát triển bình thƣờng khi mực nƣớc ngầm dƣới 1 mét. Đối với Việt Nam, ở các vùng Trung du đất trồng chè phần lớn là feralit vàng đỏ đƣợc phát triển trên đá granit, phiến thạch sét và mica. Ở vùng núi thì phần lớn là đất feralit vàng đỏ đƣợc phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, các loại đất này đều phù hợp với yêu cầu sinh trƣởng và phát triển của chè. Tuy nhiên, những đất này thƣờng nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ, vì thế cần quan tâm tới việc bón phân hữu cơ để cải tạo đất và bổ sung dinh dƣỡng cho cây chè sinh trƣởng tốt.
Đồng thời, hàng năm cần phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý các loại phân hóa học cho chè. Nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lƣợng vôi rất ít (khoảng 0,2% CaCO3) đã có hại cho cây chè. Vì vậy, không đƣợc dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trƣờng hợp đất có độ pH quá thấp, dƣới 4. 6 Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp.
Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp. Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dƣỡng của đất có ảnh hƣởng rất lớn đến phẩm chất. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trƣởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hƣơng của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nƣớc có màu vàng.
Chè trồng trên đất xấu hƣơng không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít. Địa hình và địa thế có ảnh hƣởng rất rõ đến sinh trƣởng và chất lƣợng chè. Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè trồng trên núi cao có hƣơng thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng. Kinh nghiệm nhận thấy chè đƣợc chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hƣơng vị đó không thể có đƣợc trong chè trồng ở khu vực thấp.
Nhiều tác giả ở Liên Xô: Kharabava, Đjêmukhatze đã xác định chè trồng ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thì khuynh hƣớng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn (Hoàng Văn Chung và cs, 2004). Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nƣớc trên thế giới thƣờng có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét. Vùng chè ngon có tiếng ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2. Chất lƣợng chè ở vùng cao tốt nhƣng về sinh trƣởng thƣờng kém hơn ở vùng thấp.
Hƣớng dốc có ảnh hƣởng đến khả năng tích lũy vật chất trong chè. Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng cƣờng độ tích lũy tanin và vật chất hòa tan phụ thuộc nhiều vào chế độ nhiệt. Ở hƣớng dốc phía nam hàm lƣợng tanin và chất hòa tan trong búp chè cao hơn ở hƣớng dốc phía bắc. Ở độ vĩ càng cao phẩm chất và sản lƣợng chè càng có xu hƣớng giảm thấp.
Do độ nhiệt thấp, 7 độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hƣởng không tốt đến sinh trƣởng và tích lũy vật chất trong cây chè. Nhìn chung, qua nghiên cứu về đất trồng chè chúng ta thấy đây là đất trồng cây lâu năm có tầng canh tác mặt khoảng 80 cm, tơi xốp, có mạch nƣớc ngầm ở dƣới, độ dốc dƣới 250, với chất chỉ thị là cây sim, mua. Đất đồi núi ở vùng trung du miền núi phía Bắc nƣớc ta hoàn toàn phù hợp cho việc trồng chè.2 Đặc điểm * Lao động trong nông nghiệp có những đặc điểm riêng so với các ngành sản xuất vật chất khác, trƣớc hết ít chuyên sâu nhƣ ở trong công nghiệp, nghĩa là một lao động có thể làm đƣợc nhiều việc khác nhau và nhiều lao động có thể thực hiện cùng một công việc; lao động nông nghiệp còn mang tính thời vụ cao là nét đặc trƣng điển hình tuyệt đối không thể xoá bỏ, nó làm phức tạp quá trình sử dụng yếu tố nguồn nhân lực trong nông nghiệp; lao động nông nghiệp diễn ra trong phạm vi rộng lớn, đa dạng về địa bàn và điều kiện sản xuất; Phần lớn lao động nông nghiệp ít đƣợc đào tạo, điều này khiến cho hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật và công nghệ mới. Trong sản xuất nông nghiệp, lao động là nguồn đầu vào quan trọng và cơ bản.
Xu hƣớng biến động của nguồn lực này có tính quy luật là không ngừng thu hẹp về số lƣợng và đƣợc chuyển một bộ phận sang các ngành khác, trƣớc hết là công nghiệp với những lao động trẻ khoẻ có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật. Vì thế số lao động ở lại trong khu vực nông nghiệp thƣờng là những ngƣời có độ tuổi trung bình cao và tỷ lệ này có xu hƣớng tăng lên. Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, lao động trong nông nghiệp có số lƣợng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động xã hội. Song, cùng với sự phát triển của quá trình CNH, lao động nông nghiệp vận động theo xu hƣớng giảm xuống cả tƣơng đối và tuyệt đối.
Quá trình biến 8 đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn. Giai đoạn đầu diễn ra khi đất nƣớc bắt đầu thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, sản xuất nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hoá, năng suất lao động nông nghiệp có tăng lên, một số lao động nông nghiệp đƣợc giải phóng trở nên dƣ thừa và đƣợc các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất - dịch vụ. Nhƣng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp còn lớn hơn tốc độ thu hút lao động dƣ thừa từ nông nghiệp, do đó ở thời kỳ này tỷ trọng lao động nông nghiệp mới giảm tƣơng đối, số lƣợng lao động tuyệt đối còn tăng lên. Giai đoạn này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của đất nƣớc quyết định.
Đài Loan là nơi có tốc độ tăng trƣởng kinh tế khá cao với thời gian dài. Trong 40 năm, thu nhập quốc dân bình quân đầu ngƣời của Đài loan tăng trên 70 lần. Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, Đài Loan trở thành một nền công nghiệp mới. Năm 1952 nông nghiệp chiếm 35,9%, công nghiệp chiếm 18,0% và dịch vụ chiếm 46,1% trong tổng GDP.
Cùng thời gian này dân cƣ nông nghiệp có 4.257 ngàn ngƣời, chiếm 52,4% dân số Đài Loan. Đến năm 1970 tỷ trọng của nông nghiệp giảm xuống 17,5% và công nghiệp tăng lên 34,7% trong GDP; dân số nông nghiệp tăng lên 5.997 ngàn ngƣời và chiếm 40,9%. Đài Loan kết thúc giai đoạn I, giai đoạn lao động nông nghiệp mới giảm tƣơng đối, phải mất 20 năm. Việt Nam ở giai đoạn thứ nhất, tỷ trọng lao động có việc làm trong khu vực nông nghiệp chiếm tới 69,22% (năm 1999) giảm chỉ còn 53,96% (2009), nhƣng số lao động còn tăng lên, từ 24,81 triệu lao động tăng lên 25,73 triệu lao động cùng thời gian tƣơng tự (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội, 2010).
Giai đoạn thứ hai, nền kinh tế đã phát triển ở trình độ cao, năng suất lao động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ cao.