MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở Việt Nam nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, sản phẩm nông nghiệp không những cung cấp cho con người những nhu cầu cần thiết về lượng chất giúp con người tồn tại và phát triển. Sản phẩm nông nghiệp còn là nguồn nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến. Chè là một trong những cây có giá trị cao ở trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, là cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc miền núi.
Riêng với tỉnh Thái Nguyên cây chè đã góp phần làm giàu cho nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là chử cơ sở nhỏ và các doanh nghiệp. Ngành chè Thái Nguyên đã giải quyết việc làm cho 66.000 hộ nông dân, sản lượng chè khô thu được hàng năm đạt 16.000 tấn, trọng đó kinh ngạch xuất khẩu hàng năm đạt 4,2 - 4,8 triệu USD.[2] Cây chè đã có từ lâu ở Thái Nguyên nhưng thực sự phát triển mạnh từ những năm 60, khi nhà nước chú trọng đầu tư thành vùng chè tập trung với quy mô lớn. Hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có gần 17.000 ha chè với năng suất bình quân toàn tỉnh là trên 90 tạ/ ha ( Sở NN&PTNT tỉnh Thái Nguyên, 2006). Thái nguyên là một tỉnh miền núi phía bắc và là một đầu mối giao lưu trung tâm văn hóa của đồng bào dân tộc.
Tỉnh Thái Nguyên có 346.000 ha đất tự nhiên. Trong đó có 13% là đất nông nghiệp còn lại là đất lâm nghiệp, lúa và đất khác. Thái Nguyên là một trong những vùng trọng điểm chè của cả nước. Về chất lượng thì chè Thái Nguyên đã nổi tiếng trong nhiều năm nay đã được nhiều người biết đến.
Nói đến chè Thái Nguyên ai cũng biết đến hương thơm của chè Tân Cương vì chè Tân Cương có lợi thế tuyệt đối về đất đai. Chính thành phần tạo nên hương vị đặc biệt cho chè Tân Cương. Chè xanh e 2 Thái Nguyên nổi tiếng trong cả nước và trên thế giới vì vậy chè được xác định là cây mũi nhọn của tỉnh. Cũng nằm trong sự phát triển của ngành chè Thái Nguyên ở xã Tân Cương cây chè được coi là cây trồng quan trọng hàng đầu nhằm phát triển kinh tế vườn đồi của xã nói chung và các xóm nói riêng.
Nhìn chung các nương đồi chè phát triển tốt giá cả cao hơn các vùng chè trong tỉnh: Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa,… Và các xã khác trong khu vực thành phố Thái Nguyên. Nếu cây chè phát triển được sẽ góp phần quan trọng tạo công ăn việc làm cho người lao động có khả năng tăng thu nhập cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho người dân. Với ý nghĩa quan trọng đó thì việc nghiên cứu giải pháp tiềm năng phát triển cây chè trên địa bàn xã một cách khách quan là một yêu cầu bức thiết vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc hoạch định chiến lược phát triển cây chè của địa phương góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế của xã, phát triển nâng cao đời sống cho người dân trồng chè. Vì vậy tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm chè theo phương thức hợp đồng giữa doanh nghiệp với người dân trên địa bàn xã Tân Cương, thành Phố Thái nguyên Tỉnh Thái Nguyên".
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá được đầy đủ, chính xác hiệu quả sản xuất và tiêu thụ chè của xã, và tình hình tiêu thụ chè trên thị trường qua các năm. Tăng giá tri ̣kinh tế trên diê ̣n tić h đấ t canh tác , xác định cây chè là cây mũi nhọn phát triển kinh tế giữ vững uy tin ́ và phát triể n Làng nghề truyề n thố ng , đảm bảo chấ t lươ ̣ng , tăng năng suấ t , diê ̣n tić h, tăng sản lươ ̣ng. Từng bước nâng cao chất lượng và thương hiệu chè của xã Tân Cương, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm chè theo phương thức hợp đồng giữa doanh nghiệp với người dân. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Tân Cương, tác động của điều kiện này đến quá trình sản xuất chè. - Đánh giá được thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã trong thời gian qua. - Đánh giá được thực trạng thị trường tiêu thụ chè qua các phương thức tiêu thụ từ đó phân tích những nguyên nhân và hạn chế ảnh hưởng đến tiêu thụ chè theo phương thức hợp đồng giữa doanh nghiệp với người dân.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao lợi ích trong phân phối giữa doanh nghiệp và người sản xuất nhằm thực thi tốt hơn hợp đồng sản xuất giữa người nông dân với các doanh nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất và tiêu thụ chè đến tiêu thụ chè theo phương thức hợp đồng giữa doanh nghiệp với người dân của xã Tân Cương. - Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn.
- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói chung và sinh viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn nói riêng trong các khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài đánh giá một cách tổng quát về tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ chè theo phương thức hợp đồng giữa doanh nghiệp với người dân trên địa bàn xã, thấy được giá trị kinh tế do cây chè mang lại cho các hộ nông dân trồng chè. Từ đó có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ e 4 UBND xã Tân Cương, và các cơ quan liên quan trong việc phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là người dân trồng chè. Những đóng góp mới của đề tài Đánh giá một cách tương đối về HQKT cũng như sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè.
Đồng thời tìm hiểu và nghiên cứu về nhằm làm rõ các hình thức hợp đồng giữa hộ sản xuất trong vùng chè. Đề cập đến lợi ích trong phân phối giữa doanh nghiệp và người sản xuất. Đẩy mạnh sản phẩm tiêu thụ chè theo phương thức hợp đồng giữa doanh nghiệp với người dân nhằm ổn định thị trương đầu vào và đầu ra, giúp người dân yên tâm và sản xuất, để tăng HQKT. Đề xuất giải pháp để thực thi tốt phương thức hợp đồng giữa người nông dân với các doanh nghiệp.
e 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hoá con người, sản xuất chè tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu giải khát của đông đảo nhân dân ở nhiều quốc gia.
Chè có nhiều Vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiể u mô ̣t số bê ̣nh thườ ng gă ̣p về máu , do đó chè đã trở thành đồ u ống phổ thông trên thế giới. Tại một số nước thói quen uống nước chè đã tạo thành mô ̣t nề n văn hóa truyề n thố ng , mô ̣t tâ ̣p quán. Hiê ̣n nay khoa ho ̣c tiế n bô ̣ đã đi sâu vào nghiên cứ u tim ̀ ra đươ ̣c mô ̣t số hoa ̣t chấ t quý có trong cây chè như : Cafein, Vitamin A, B1. Đặc biệt tr ong cây chè còn chứa Vitamin C là loa ̣i Vitamin dùng để điề u chế thuố c tân dươ ̣c vì thế chè không những là loa ̣i cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dươ ̣c.[10] Đối với nước ta, sản phẩm chè không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước, mà còn là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn, giúp nước ta có thêm một nguồn ngân sách để đầu tư vào phát triển kinh tế của đất nước, cải thiện nâng cao mức sống của người dân.
Xét ở tầm vĩ mô thì xuất khẩu chè cũng như xuất khẩu các mặt hàng khác nó là cơ sở để đẩy mạnh lưu thông buôn bán giữa các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần tạo sự cân bằng giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong tổng thể nền kinh tế, đồng thời nó tạo nên mối quan hệ bình đẳng, thân thiện, cùng có lợi giữa các nước xuất khẩu, nhập khẩu trên thế giới. e 6 Trực tiếp đối với các hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm chè thì cây chè mang lại thu nhập ổn định, cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác, bởi cây chè có tuổi thọ cao có thể sinh trưởng, phát triển và cho sản phẩm có giá trị cao và đều đặn trong khoảng 40 - 50 năm, do vậy nó sẽ tạo ra một nguồn thu đều đặn lâu dài và có giá trị kinh tế cao, giúp các hộ cải thiện đời sống, nâng cao mức sống của người dân. Mặt khác, cây chè là loại cây trồng thích hợp với các vùng đất miền núi và trung du, những vùng đất cao, khô thoáng. Hơn thế nữa nó còn gắn bó keo sơn ngay cả với những vùng đất đồi dốc khô cằn sỏi đá.
Chính vì vậy trồng chè không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo ra cảnh quan đẹp. Kết hợp trồng chè với trồng rừng sẽ tạo nên những vành đai chống xói mòn, rửa trôi, giữ lại lớp màu mỡ cho đất, cải tạo đất tăng độ phì cho đất bạc màu, góp phần bảo vệ môi trường phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Ngoài ra trồng chè và sản xuất chè còn cần một lực lượng lao động lớn, cho nên nó sẽ tạo ta công ăn việc làm cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo điều kiện cho việc thu hút và sử dụng lao động, điều hoà lao động được hợp lý hơn.