Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn có vai trò to lớn cung cấp thực phẩm, dinh dưỡng cho trên 90 triệu người Việt Nam và tiến tới xuất khẩu, mang lại lợi ích đáng kể cho người chăn nuôi. Chăn nuôi lợn của nước ta đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, có nhiều cơ hội song cũng có nhiều thách thức trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa. Theo cục thống kê (T12/2016) hiện nay số lượng lợn thịt ước tính đạt khoảng 30 triệu lợn thịt và 4,2 triệu lợn nái sinh sản. Tuy nhiên hiện nay thị trường diễn biến hết sức phức tạp giá lợn xuống thấp nhất trong lịch sử nghành chăn nuôi và trên thế giới bên cạnh đó dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp việc điều trị cũng khó khăn hơn và trong đó có một số bệnh trên lợn nái sinh sản.
Trước xu thế phát triển chăn nuôi lợn muốn đứng vững và phát triển được phải sản xuất ra sản phẩm an toàn sức khỏe người tiêu dùng nhưng vẫn phải đảm bảo cạnh tranh khu vực và thế giới về tiêu chí ngon, rẻ và an toàn nếu không sẽ mất ngay thị trường trong nước chứ đừng nghĩ đến xuất khẩu. Để đáp ứng nhu cầu đó ngoài những yếu tố về con giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý thì công tác thú y cần được chú trọng và hạn chế bệnh tật, nâng cao chất lượng chăn nuôi. Đứng trước yêu cầu đó, ngành chăn nuôi nói chung cũng như ngành chăn nuôi lợn nói riêng phải có một bước phát triển mới để sánh kịp với các nước khác trên thế giới. Đặc biệt hiện nay tình hình chăn nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn nhất là về chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản hay mắc các bệnh tật, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng khắt khe.
Trước thực tế đó em thực hiện chuyên đề:“ Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái nuôi con tại trại chăn nuôiBình Lục-Hà Nam liên kết với công ty Marphavet“ n 2 1. Mục đích, mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại cơ sở. - Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế.
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi. Mục tiêu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở. - Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại trại. Yêu cầu - Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con.
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con. - Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Vị trí địa lý Trại lợn bà Lê Thị Tuyếnđược xây dựng năm 2005, là trại tư được xây với quy mô hơn 200 nái. Trại được xây dựng tại xã Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Với diện tích trại gần 1ha. Xã Ngọc Lũ nằm ở phía bắc huyện Bình Lục, phía đông giáp sông Châu Giang, phía tây giáp xã Hưng Công, phía tây nam và phía nam giáp xã Bồ Đề.
Toàn xã có diện tích 1554 mẫu bắc bộ. Xã Ngọc Lũ có diện tích 5. Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho giao thông, vận chuyển thức ăn cũng như việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa của trại.2 Điều kiện khí hậu Địa hình huyện Bình Lục không bằng phẳng, có thể chia thành 3 vùng chính: vùng đất bãi ven sông Châu Giang vùng đồng lúa, vùng trũng. Huyện Bình Lục có khí hậu nhiệt đới, gió mùa phân chia thành 4 mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt.Bình Lục có đất nông nghiệp 11.
Mạng lưới giao thông của huyện thuận lợi: phía nam huyện có đường quốc lộ 21 nối Phủ Lý với Nam Định, phía bắc huyện có tỉnh lộ 62 và đường ĐT 976, phía đông Bình Lục có đường 56, đường tỉnh lộ ĐT 974 nối liền phía bắc, phía nam huyện và các huyện khác. Huyện có hệ thống giao thông đường thủy trên sông Châu Giang, sông Sắt và đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bạn huyện. Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23-24oC, số giờ nắng trung bình khoảng 1300-1500giờ/năm. Trong năm thường có 8-9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20oC (trong đó có 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 25oC) và n 4 chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưói 20oC, nhưng không có tháng nào nhiệt độ dưới 16oC.
Hai mùa chính trong năm (mùa hạ, mùa đông) với các hướng gió thịnh hành: về mùa hạ gió nam, tây nam và đông nam; mùa đông gió bắc, đông và đông bắc. Lượng mưa trung bình khoảng 1900mm, năm có lượng mưa cao nhất tới 3176mm (năm 1994), năm có lượng mưa thấp nhất cũng là 1265,3mm(năm 1998). Độ ẩm trung bình hàng năm là 85%, không có tháng nào có độ ẩm trung bình dưới 77%. Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3 (95,5%), tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất trong năm là tháng 11 (82,5%).
Khí hậu có sự phân hóa theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa hạ và mùa đông cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối là mùa xuân và mùa thu. Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3; mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4 và mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đến giữa tháng 11.Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho chăn nuôi phát triển 2. Cơ cấu tổ chức của trại Trại gồm có 5 người trong đó có: + Quản lý + kỹ thuật trại: 01 người + Sinh viên: 01 người + Công nhân: 02 người + Cấp dưỡng: 01 người n 5 2. Cơ sở vật chất của trại Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng.
-Về cơ sở vật chất: + Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,. + Những vật dụng cá nhân như: kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị. + Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết: - Trại được xây dựng trên ngoài cánh đồng khoảng 1ha với 2 dãy chuồng chạy dài lợp mái tôn. Mỗi 1 dãy lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ.
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy. - Có hệ thống quạt, điện sáng, vòi uống nước đều chạy cho lợn tự động. - Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông. - Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện.
- Về cơ sở hạ tầng: + Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi. + Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi. + Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ. + Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn, là nơi cất giữ, bảo quản các loại thuốc, vaccin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại.
n 6 - Hệ thống chuồng nuôi Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu + chuồng lợn đực phía sau chuồng bầu là chuồng cách ly. Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc. Đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông. Chuồng nuôi xây dựng theo kiểu 2 mái.
Trong đó có 1 dãy chuồng đẻ với 58 ô chuồng sàn. Chuồng lợn bầu gồm 2 dãy chuồng với kiểu chuồng cũi sắt. Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng. Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt mát và phun sương.
Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại.5 Thuận lợi và khó khăn của trại - Thuận lợi: - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông. - Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. - Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. - Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
- Trang trại liên kết với công ty Marphavet nên chủ động được nguồn thức ăn, thuốc điều trị. -Khó khăn: - Giá cả thị trường luôn biến động, giá thịt lợn giảm xuống mức thấp nhất trong lịch sử ngành chăn nuôi khiến doanh nghiệp thua lỗ. - Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao. n 7 - Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại.
Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 2. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 2. Phòng bệnh Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ.
Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau. - Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt: Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [25] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn. Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn.
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [27], vi khuẩn E.