Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi lợn giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp nguồn thực phẩm chính cho thị trường nội địa, cung cấp phân bón hữu cơ cho trồng trọt và tạo nguồn thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu. Nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho các trang trại tập trung và nông hộ, việc phát triển đàn lợn nái sinh sản là khâu then chốt. Tuy nhiên, chăn nuôi công nghiệp đối với các giống lợn nái ngoại nhập khẩu gặp trở ngại lớn về dịch bệnh do khả năng thích nghi của đàn nái với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm còn hạn chế. Trong giai đoạn sinh đẻ, lợn nái dễ bị các loại vi khuẩn cơ hội như Streptococcus, Staphylococcus, Escherichia coli xâm nhập vào đường sinh dục gây nhiễm trùng sau đẻ, phổ biến nhất là bệnh viêm tử cung. Tình trạng này tác động trực tiếp đến sức khỏe sinh sản, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như hội chứng viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA), rối loạn chu kỳ tính, vô sinh, chậm sinh, hoặc viêm phúc mạc gây nhiễm trùng huyết.
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thu Hiền thực hiện nhằm đánh giá thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng, tỷ lệ phát sinh bệnh lý tử cung và thử nghiệm giải pháp can thiệp trị liệu tại cơ sở sản xuất.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:
- Áp dụng quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản nuôi tại trại Bùi Huy Hạnh.
- Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại.
- Xác định hiệu lực của một số phác đồ điều trị bệnh.
Yêu cầu nghiên cứu:
- Thành thạo quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái theo từng giai đoạn sinh lý.
- Xác định được tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái nuôi tại trại.
- Xác định được phác đồ điều trị bệnh có hiệu quả cao và an toàn với thể trạng đàn lợn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản, đàn lợn con theo mẹ và bệnh viêm tử cung trên đàn nái.
- Không gian nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi lợn giống của ông Bùi Huy Hạnh tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (đơn vị chăn nuôi gia công trực thuộc Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam). Trang trại có tổng diện tích 3 ha (1 ha khu chuồng nuôi tập trung và 2 ha khuôn viên cây xanh, ao hồ), thiết kế chuồng kín khép kín với quy mô nuôi 1.200 lợn nái.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 18/5/2016 đến ngày 18/11/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Văn bản khóa luận xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các tài liệu giải phẫu, sinh lý sinh dục gia súc và các công trình nghiên cứu bệnh lý sinh sản:
- Cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái: Bao gồm cơ quan sinh dục ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và cơ quan sinh dục trong (âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng). Tử cung lợn có cấu tạo sừng kép đặc thù, gồm 2 sừng dài 40–65 cm uốn cong thích hợp mang đa thai, thân tử cung ngắn khoảng 5 cm và cổ tử cung dài 10 cm có các gờ thịt hình răng lược khép kín.
- Đặc điểm sinh lý sinh sản: Tuổi thành thục tính của lợn từ 6–8 tháng tuổi, lợn ngoại động dục lần đầu lúc 6–8 tháng tuổi, lợn nội từ 4–5 tháng tuổi (121–158 ngày). Chu kỳ động dục trung bình 21 ngày (dao động 18–22 ngày), trải qua 4 giai đoạn: trước động dục (1–2 ngày), động dục (2–3 ngày, rụng 8–25 trứng), sau động dục và yên tĩnh. Thời gian mang thai trung bình 114 ngày (biến động 110–118 ngày). Thời gian đẻ kéo dài 2–6 giờ với 3 pha: mở cổ tử cung, sổ thai và sổ nhau (hoàn tất 10–50 phút sau sổ thai).
- Bệnh học viêm tử cung: Tổng quan y văn ghi nhận nguyên nhân do vi khuẩn xâm nhập khi cổ tử cung mở lúc đẻ hoặc giao phối, xây xát cơ giới khi trợ sản đẻ khó, thụ tinh nhân tạo không vô trùng, sót nhau hoặc kế phát từ các bệnh truyền nhiễm (sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn). Dẫn chiếu số liệu của Madec (1991, 1995) tại Pháp cho thấy tỷ lệ viêm tử cung chiếm 15–26% ở đàn nái; dẫn chiếu Nguyễn Văn Thanh (2002) tại Việt Nam ghi nhận 42,4% lợn nái sau sinh mắc viêm tử cung (nái thuần 25,48%, nái lai 50,84%).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp điều tra, theo dõi lâm sàng: Giám sát hàng ngày trên toàn đàn nái chửa và nái sau đẻ. Chẩn đoán bệnh viêm tử cung dựa vào triệu chứng điển hình: thân nhiệt tăng cao (sốt sáng 39–39,5°C, chiều 40–41°C ở thể cấp tính), con vật cong lưng rặn đái, dịch viêm chảy từ âm đạo màu trắng đục, nâu hoặc lẫn máu, có mùi hôi tanh dính bết ở mép âm hộ và gốc đuôi.
- Phương pháp thử nghiệm lâm sàng: Đánh giá so sánh 2 phác đồ điều trị trên tổng số 33 lợn nái mắc bệnh (Phác đồ 1 áp dụng trên 16 con; Phác đồ 2 áp dụng trên 17 con). Các cá thể thí nghiệm được nuôi dưỡng trong cùng điều kiện chuồng trại, chăm sóc và dinh dưỡng.
- Phương pháp đánh giá khỏi bệnh: Kiểm tra lâm sàng liên tục sau 7 ngày điều trị; cá thể lợn nái không còn dịch viêm chảy ra từ âm đạo được xác định là khỏi bệnh hoàn toàn.
- Nguồn dữ liệu: Sổ sách theo dõi sản xuất, sổ phối giống, sổ thú y của trại Bùi Huy Hạnh qua các năm (2014 đến tháng 10/2016) và nhật ký thực tập trực tiếp của tác giả.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu theo dõi lâm sàng và điều trị được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Chương này nêu rõ tính cấp thiết của việc phát triển đàn lợn nái sinh sản nhằm cung cấp giống cho sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh chăn nuôi lợn giữ vai trò hàng đầu ngành chăn nuôi. Đặt vấn đề trực diện vào các rủi ro bệnh lý đường sinh sản ở đàn nái ngoại nuôi công nghiệp thích nghi kém với thời tiết nóng ẩm, đặc biệt là bệnh viêm tử cung gây thiệt hại lớn về kinh tế và năng suất giống. Xác định rõ ràng 3 mục tiêu và 3 yêu cầu cụ thể cần giải quyết trong đợt nghiên cứu tại cơ sở.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập và tổng quan cơ sở khoa học:
- Điều kiện trại Bùi Huy Hạnh: Nằm tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương thuộc hạ lưu sông Thái Bình, nhiệt độ trung bình năm 21–23°C, lượng mưa trung bình 1.567 mm, độ ẩm trung bình 82%. Cơ sở hạ tầng gồm 6 chuồng đẻ (56 ô/chuồng, kích thước 2,4 × 1,6 m), 2 chuồng bầu (560 ô/chuồng, kích thước 2,4 × 0,65 m), 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống; hệ thống chuồng kín làm mát bằng giàn lạnh, quạt hút gió công nghiệp; phòng pha tinh trang bị máy đo mật độ tinh trùng, kính hiển vi và thiết bị cảm ứng nhiệt. Nhân lực gồm 1 chủ trại, 1 quản lý, 1 kỹ sư C.P., 2 tổ trưởng, 1 bảo vệ và hơn 10 công nhân.
- Cơ sở tài liệu: Khái quát giải phẫu hệ sinh dục cái, sinh lý chu kỳ động dục, quá trình thụ thai, mang thai, cơ chế đẻ và tiết sữa ở lợn.
- Phân tích nguyên nhân, triệu chứng (thể cấp tính, thể mãn tính), bệnh tích, phương pháp chẩn đoán và nguyên tắc điều trị bệnh viêm tử cung kết hợp cục bộ và toàn thân.
- Tổng thuật các công trình nghiên cứu ngoài nước (Madec, Popkov, Kotowski, Kemper & Gerjets) và trong nước (Nguyễn Văn Thanh, Trần Tiến Dũng, Lê Văn Năm, Phạm Sỹ Lăng).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Xác định đối tượng là đàn lợn nái và bệnh viêm tử cung tại trại Bùi Huy Hạnh trong thời gian từ 18/5/2016 đến 18/11/2016. Chi tiết hóa các nội dung thực hiện: tham gia công tác sản xuất chăn nuôi, theo dõi tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo tháng và lứa đẻ, thử nghiệm 2 phác đồ điều trị. Thiết lập cấu trúc hai phác đồ điều trị gồm kháng sinh toàn thân, thuốc trợ sức trợ lực, kích thích co bóp tử cung bằng Oxytocin và thụt rửa sát trùng cục bộ. Thống nhất tiêu chí chẩn đoán mắc bệnh và tiêu chuẩn đánh giá khỏi bệnh sau 7 ngày kết thúc liệu trình.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được trong 6 tháng tại trang trại:
- Thực hiện quy trình kỹ thuật chăn nuôi: Phân chia khẩu phần dinh dưỡng cho nái mang thai kỳ 1 (1–84 ngày, dùng cám 566SF, 13% protein, 2.800 kcal ME/kg, lượng ăn 1,5–3 kg/ngày) và kỳ 2 (từ ngày 85 đến trước đẻ, dùng cám 567SF, 17% protein, 3.000 kcal ME/kg, lượng ăn 3,5–4 kg/ngày). Quy trình giảm cám trước đẻ 2 ngày (còn 0,5 kg/ngày) và tăng dần sau đẻ lên 5–6 kg/ngày. Quy trình chăm sóc lợn con: tập ăn cám 550SF lúc 4–6 ngày tuổi, cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi.
- Công tác thú y phòng bệnh: Lập bảng lịch sát trùng chuồng trại tuần hoàn bằng hóa chất vôi xút, dung dịch xút NaOH 5–10% và phun thuốc khử trùng. Quy trình tiêm phòng vắc xin cụ thể cho từng nhóm lợn: vắc xin dịch tả lợn Coglapest, lở mồm long móng Aftopor, giả dại Begonia, khô thai Parvo.
- Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh phổ biến trên đàn lợn: viêm tử cung ở nái, tiêu chảy, viêm phổi và viêm khớp ở lợn con.
- Số liệu thống kê cơ cấu đàn trong 3 năm (2014–10/2016) và đánh giá biến động số lượng nái sinh sản, đực giống, lợn con.
- Đánh giá thử nghiệm lâm sàng 2 phác đồ điều trị viêm tử cung trên 33 lợn nái.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về tình hình sản xuất, tỷ lệ phát sinh bệnh và hiệu quả thực nghiệm của các biện pháp thú y, từ đó nêu các kiến nghị kỹ thuật đối với công tác vệ sinh phòng dịch và quản lý đàn nái tại cơ sở chăn nuôi.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã ghi nhận và tổng hợp các số liệu thực tế về sản xuất và điều trị bệnh tại trại lợn Bùi Huy Hạnh:
1. Cơ cấu đàn lợn của trại giai đoạn 2014 – tháng 10/2016
Quy mô đàn lợn của trang trại duy trì ổn định và có xu hướng tăng nhẹ qua 3 năm theo chính sách của Công ty C.P. Việt Nam:
| Loại lợn |
Năm 2014 (con) |
Năm 2015 (con) |
Tháng 10/2016 (con) |
| Lợn nái sinh sản |
1.236 |
1.256 |
1.265 |
| Lợn nái hậu bị |
119 |
120 |
121 |
| Lợn đực giống |
20 |
20 |
21 |
| Lợn con |
21.258 |
22.089 |
22.130 |
| Tổng số |
22.633 |
23.485 |
23.537 |
2. Kết quả công tác thú y và phục vụ sản xuất
Trong 6 tháng thực tập, tác giả đã tham gia trực tiếp vào các khâu kỹ thuật chăn nuôi và can thiệp trị liệu với kết quả ghi nhận tại văn bản:
| Nội dung công việc |
Số lượng thực hiện (con) |
Số lượng đạt / khỏi (con) |
Tỷ lệ thành công (%) |
| Tiêm phòng vắc xin cho lợn con |
|
|
|
| - Dịch tả (Coglapest) |
32 |
32 |
100,00 |
| - Cầu trùng (uống Diacoxin 5%) |
3.603 |
3.603 |
100,00 |
| Điều trị bệnh |
|
|
|
| - Bệnh viêm tử cung ở lợn nái |
33 |
31 |
93,94 |
| - Bệnh viêm khớp ở lợn con |
32 |
29 |
90,63 |
| - Bệnh viêm phổi ở lợn con |
76 |
71 |
93,42 |
| - Bệnh tiêu chảy ở lợn con |
223 |
207 |
92,83 |
| Chăm sóc, nuôi dưỡng |
|
|
|
| - Tắm chải cho lợn |
1.073 |
1.073 |
100,00 |
| - Cho lợn ăn theo định lượng |
5.600 |
5.600 |
100,00 |
| Công tác khác |
|
|
|
| - Đỡ đẻ cho lợn nái |
983 |
983 |
100,00 |
| - Xuất bán lợn con cai sữa |
3.500 |
3.500 |
100,00 |
| - Tiêm Fe, mài nanh, cắt tai, cắt đuôi |
3.613 |
3.613 |
100,00 |
| - Thiến lợn đực con |
691 |
691 |
100,00 |
Ghi chú số liệu: Bên cạnh nhóm 33 lợn nái điều trị thử nghiệm phác đồ, phần mô tả lâm sàng của khóa luận ghi nhận trong toàn bộ thời gian thực tập tại trại đã thực hiện theo dõi điều trị trên 590 lợn nái nghi mắc bệnh, xác định 563 con mắc bệnh viêm tử cung (chiếm tỷ lệ 95,42%).
3. Thử nghiệm so sánh phác đồ điều trị viêm tử cung
Khóa luận bố trí thử nghiệm 2 phác đồ điều trị trên 33 lợn nái mắc bệnh:
| Hạng mục thuốc |
Phác đồ 1 (16 lợn nái) |
Phác đồ 2 (17 lợn nái) |
| Kháng sinh tiêm bắp |
Vetrimoxin LA (Amoxicillin): 1 ml/10 kg TT, tiêm cách ngày (liệu trình 3–5 ngày) |
Pendistrep LA (Penicillin + Streptomycin): 1 ml/10 kg TT, tiêm cách ngày (liệu trình 3–5 ngày) |
| Thuốc giảm đau, hạ sốt |
Analgin: 1 ml/10 kg TT, tiêm bắp 1 lần/ngày |
Analgin: 1 ml/10 kg TT, tiêm bắp 1 lần/ngày |
| Thuốc trợ sức, trợ lực |
B.complex (1 ml/10 kg TT) kết hợp Catosal 10% (30 ml chia 2 mũi tiêm bắp) |
B.complex (1 ml/10 kg TT) kết hợp Catosal 10% (30 ml chia 2 mũi tiêm bắp) |
| Kích thích co bóp |
Oxytocin: 1–2 ml/100 kg TT, tiêm bắp hoặc dưới da 1 mũi duy nhất |
Oxytocin: 1–2 ml/100 kg TT, tiêm bắp hoặc dưới da 1 mũi duy nhất |
| Thụt rửa tại chỗ |
Thụt rửa dung dịch Biocid-30, sau đó bơm vào tử cung hỗn hợp: 1 triệu UI Penicillin + 1 g Streptomycin (1 lần/ngày) |
Thụt rửa dung dịch Biocid-30, sau đó bơm vào tử cung hỗn hợp: 1 triệu UI Penicillin + 1 g Streptomycin (1 lần/ngày) |
Kết quả thử nghiệm điều trị chung của 2 phác đồ đạt tỷ lệ khỏi 93,94% (31/33 con). Việc kết hợp kháng sinh toàn thân tác dụng kéo dài (dạng LA), thuốc kháng viêm giảm đau, thuốc bồi bổ cơ thể, hormone co bóp tống đẩy sản dịch Oxytocin và thụt rửa kháng sinh tại chỗ đã giải quyết hiệu quả tình trạng viêm nhiễm nội mạc tử cung mà không gây tác động tiêu cực đến thể trạng nái.
4. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mang thai và nuôi con khép kín theo tiêu chuẩn công nghiệp của C.P. Việt Nam tại địa bàn Hải Dương.
- Minh chứng hiệu quả thực nghiệm của phác đồ điều trị kết hợp giữa kháng sinh phổ rộng toàn thân và thụt rửa sát trùng tử cung cục bộ, cung cấp số liệu thực tế về khả năng điều trị khỏi bệnh viêm tử cung đạt trên 93%.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một trang trại chăn nuôi gia công duy nhất (trại Bùi Huy Hạnh, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương), chưa có số liệu so sánh đối chứng liên trại trên cùng địa bàn.
- Thời gian theo dõi diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2016), chưa phản ánh trọn vẹn đặc điểm dịch tễ của bệnh viêm tử cung trong toàn bộ chu kỳ 12 tháng, đặc biệt là giai đoạn thời tiết chuyển mùa đông xuân có độ ẩm cao.
- Khóa luận chẩn đoán bệnh dựa trên biểu hiện triệu chứng lâm sàng và dịch xuất tiết âm đạo; chưa thực hiện phân lập, định danh chính xác các chủng vi khuẩn gây bệnh trong phòng thí nghiệm và chưa tiến hành thử nghiệm kháng sinh đồ để đánh giá mức độ kháng thuốc của vi khuẩn.
- Số lượng lợn nái đưa vào thử nghiệm phác đồ điều trị còn ở quy mô hẹp (33 cá thể).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô thử nghiệm phác đồ điều trị trên số lượng lợn nái lớn hơn và thực hiện đối chứng ở nhiều mô hình trang trại khác nhau.
- Triển khai lấy mẫu dịch viêm tử cung để nuôi cấy vi sinh vật, xác định các loài vi khuẩn chiếm ưu thế và kiểm tra độ mẫn cảm với các loại kháng sinh mới nhằm tối ưu hóa phác đồ điều trị.
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh sản tiếp theo của lợn nái sau điều trị khỏi viêm tử cung, bao gồm tỷ lệ thụ thai ở chu kỳ động dục kế tiếp, số con đẻ ra trên lứa và khối lượng sơ sinh của lợn con.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi Thú y đang thực hiện đồ án tốt nghiệp, rèn nghề hoặc chuyên đề về bệnh lý sinh sản gia súc.
- Cán bộ kỹ thuật, kỹ sư chăn nuôi và nhân viên thú y tại các trang trại nuôi lợn công nghiệp quy mô vừa và lớn.
Các nội dung có giá trị tham khảo ứng dụng cao:
- Bảng lịch sát trùng chuồng trại định kỳ hàng tuần bằng NaOH, vôi bột và hóa chất khử trùng sàn chuồng, gầm chuồng khép kín.
- Quy trình tiêm phòng vắc xin cụ thể cho đàn lợn con, nái hậu bị, nái sinh sản và lợn đực giống (loại vắc xin, liều lượng, đường đưa và thời điểm can thiệp).
- Định mức và khẩu phần dinh dưỡng chi tiết theo tuần tuổi thai (cám 566SF và 567SF) kết hợp kỹ thuật chăm sóc nái chờ đẻ và nái nuôi con.
- Công thức phối hợp thuốc trong phác đồ điều trị viêm tử cung (kết hợp Vetrimoxin LA hoặc Pendistrep LA với Analgin, Catosal, Oxytocin và thụt rửa Penicillin + Streptomycin).
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô xây dựng và hệ thống chuồng trại của cơ sở thực nghiệm được bố trí như thế nào?
Trang trại Bùi Huy Hạnh có diện tích 3 ha (1 ha khu chuồng nuôi và 2 ha cây xanh, ao hồ), thiết kế cho quy mô 1.200 lợn nái. Hệ thống gồm 6 chuồng đẻ (56 ô/chuồng, diện tích 2,4 × 1,6 m/ô), 2 chuồng bầu (560 ô/chuồng, diện tích 2,4 × 0,65 m/ô), 3 chuồng cách ly và 1 chuồng nuôi đực giống. Chuồng được làm mát bằng hệ thống giàn mát ở đầu chuồng và quạt thông gió công nghiệp ở cuối chuồng (chuồng bầu có 8 quạt, chuồng cách ly và đực giống có 2 quạt).
2. Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai được phân chia theo những giai đoạn nào?
Khẩu phần được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn nái chửa kỳ 1 (từ ngày 1 đến ngày 84): Dùng thức ăn 566SF (13% protein, ME 2.800 kcal/kg). Lợn chửa tuần 1–12 ăn 1,5–2 kg/con/ngày; tuần 13–14 ăn 2,5–3 kg/con/ngày (chia 2 bữa/ngày).
- Giai đoạn nái chửa kỳ 2 (từ ngày 85 đến trước khi đẻ 7–10 ngày): Dùng thức ăn 567SF (17% protein, ME 3.000 kcal/kg), lượng ăn 3,5–4 kg/con/ngày (chia 2 bữa/ngày). Trước khi đẻ 2 ngày, mỗi ngày giảm 1 kg thức ăn, đến ngày đẻ dự kiến chỉ cho ăn 0,5 kg/con/ngày.
3. Đàn lợn nái sinh sản tại trại được tiêm phòng những loại vắc xin nào theo định kỳ?
Lợn nái sinh sản được tiêm vắc xin dịch tả Coglapest lúc 10 tuần chửa (2 ml tiêm bắp) và vắc xin lở mồm long móng Aftopor lúc 12 tuần chửa (2 ml tiêm bắp). Ngoài ra, toàn bộ đàn nái được tiêm phòng định kỳ vắc xin giả dại Begonia tổng đàn vào các tháng 4, tháng 8 và tháng 12 hàng năm (liều 2 ml/con, tiêm bắp).
4. Hai phác đồ thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung khác nhau ở điểm nào và hiệu quả ra sao?
Điểm khác biệt chính giữa hai phác đồ nằm ở loại kháng sinh toàn thân dạng tác dụng kéo dài: Phác đồ 1 sử dụng Vetrimoxin LA (hoạt chất Amoxicillin), trong khi Phác đồ 2 sử dụng Pendistrep LA (phối hợp Penicillin và Streptomycin), đều tiêm liều 1 ml/10 kg thể trọng cách ngày. Cả hai phác đồ đều dùng chung thuốc hạ sốt Analgin, thuốc bổ B.complex và Catosal, kích tố co bóp Oxytocin và thụt rửa tử cung bằng Biocid-30 kèm bột kháng sinh Penicillin + Streptomycin. Tổng kết điều trị 33 lợn nái trên cả hai phác đồ đã chữa khỏi cho 31 con, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 93,94%.
5. Lợn con theo mẹ được chăm sóc và cai sữa theo quy trình nào tại trại?
Lợn con sơ sinh được lau khô, cắt rốn; giai đoạn 2–3 ngày tuổi được bấm số tai, cắt đuôi, mài nanh, tiêm sắt (Fe + B12); 3–4 ngày tuổi uống thuốc phòng cầu trùng Diacoxin 5%; 4–5 ngày tuổi thiến lợn đực; 4–6 ngày tuổi tập ăn thức ăn hoàn chỉnh 550SF; 16–18 ngày tuổi tiêm vắc xin dịch tả Coglapest. Lợn con được thực hiện cai sữa sớm vào thời điểm 21 ngày tuổi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thu Hiền đã phản ánh chi tiết quy trình chăn nuôi lợn nái công nghiệp và kiểm soát thú y tại trại lợn Bùi Huy Hạnh (Hải Dương). Đề tài ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung cao trên đàn nái nuôi tập trung và đã thử nghiệm thành công phác đồ điều trị kết hợp giữa kháng sinh toàn thân, thuốc trợ sức, oxytocin cùng thụt rửa tại chỗ với tỷ lệ khỏi bệnh đạt 93,94%. Các kết quả thống kê và quy trình kỹ thuật trong văn bản là nguồn dữ liệu thực tế có giá trị ứng dụng cho hoạt động thực hành thú y tại các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản.