Đặt vấn đề Chăn nuôi Việt Nam có lịch sử lâu đời và đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo cải thiện đời sống của người dân Việt Nam từ nhiều năm qua. Hiện nay, theo sự thay đổi của nền kinh tế, ngành chăn nuôi đang có những bước đi mới và đạt được những thành quả nhất định. Chăn nuôi lợn cùng chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi trâu bò đều đã có từ lâu gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước. Những năm gần đây nhờ có sự quan tâm hỗ trợ của nhà nước cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại chăn nuôi lợn đang không ngừng phát triển chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta.
Theo số liệu tổng cục thống kê năm 1997 tổng số lợn nước ta là 17635,8 nghìn con nhưng sơ bộ đến tháng 10/ 2017 là 27406,7 nghìn con tăng gần 10 tỷ con. Trong chăn nuôi lợn thì con giống, dinh dưỡng và quản lý công tác vệ sinh chuồng trại là những yếu tố quan trọng nhất đối với người chăn nuôi, những yếu tố này là cả một quá trình đầu tư, học tập, tích lũy kinh nghiệm và được tập huấn một cách thường xuyên nhưng vẫn còn nhiều bất cập và khó khăn, nhất là công tác quản lý và tìm đầu ra cho sản phẩm, quy mô còn nhỏ, năng suất thấp, lệ thuộc nguyên liệu thức ăn thuốc thú y nước ngoài, con giống, kỹ thuật và đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định cũng như tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh, chất cấm trong chăn nuôi và tiêu dùng còn thiếu sự kiểm soát chặt chẽ. Trên cơ sở được trang bị các khối kiến thức về chuyên môn, để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề, giúp sinh viên tự tin và có khả năng làm việc ngay sau khi ra trường. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và nhu cầu của bản thân, em đã thực hiện chuyên đề “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi h 2 dưỡng và phòng trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn của công ty Phát Đạt - thành phố Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở - Xác định được hiệu quả của việc thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản tại trại. Yêu cầu - Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái. - Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái.
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở - Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Vị trí địa lý Trại lợn của công ty Phát Đạt đi vào hoạt động vào năm 2008 với quy mô 320 lợn nái.
Trại được xây dựng tại thành phố Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. Thành phố Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 45km. Địa giới hành chính thành phố Phúc Yên có: Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn - thành phố Hà Nội Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên - tỉnh Vĩnh Phúc Phía Nam giáp huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên 2. Điều kiện khí hậu Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa Hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa Đông.
Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng. Nhiệt độ có các đặc trưng sau: Cực đại trung bình năm là 20,5°C Cực đại tuyệt đối 41,6°C Cực tiểu tuyệt đối 3,1°C Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%. Hướng gió chủ đạo về mùa Đông là Đông - Bắc, về mùa Hè là Đông - Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4m/s. Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25m/s; 10 năm là 32m/s; 20 năm là 32m/s.
Cơ cấu tổ chức của trại Trại có cơ cấu tổ chức như sau: + 1 chủ trại + 1 quản lý + 1 kỹ sư + 1 kế toán + 5 công nhân + 5 sinh viên thực tập. Với đội ngũ lao động như trên, trại phân ra thành từng tổ khác nhau: tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ chuồng lợn thịt. Các công việc cụ thể được phân đến từng công nhân, sinh viên nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu suất chăn nuôi của trang trại. Cơ sở vật chất và hạ tầng của trại Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng.
* Về cơ sở vật chất: - Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt. - Những vật dụng cá nhân như: xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại hỗ trợ chi phí. - Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư hơn hết - Trại được xây dựng trên mảnh đất khoảng 15000m2. - Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn mang thai) và sàn nằm (đối với chuồng lợn đẻ) được lắp đặt theo dãy.
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn. - Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa Đông. h 5 - Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện. * Về cơ sở hạ tầng: - Trại lợn xây dựng gồm 2 khu tách biệt: + Khu nhà ở và sinh hoạt của công nhân, sinh viên + Khu chuồng nuôi Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi có nhà bếp và nhà ăn rộng rãi sạch sẽ Khu chuồng nuôi được xây dựng trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân, gồm: 2 chuồng lợn đẻ có 96 ô kích thước 2,4 x 1,6m/ô; 2 chuồng lợn bầu 246 ô kích thước 2,4 x 0,65 m/ô; 1 chuồng nuôi lợn sau cai sữa,1 chuồng cách ly và 3 chuồng nuôi lợn thịt.
Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa Đông. Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng. Mùa Hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông gió và dàn mát. Mùa Đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại.
Có 1 phòng pha tinh sạch sẽ với nhiều máy móc hiện đại như: máy lọc nước, kính hiển vi, tủ bảo quản tinh, máy đóng tinh,. Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại. Thuận lợi và khó khăn của trại - Thuận lợi: + Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, giao thông thuận tiện. + Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc.
h 6 + Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay. - Khó khăn: + Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn. + Số lượng công nhân làm việc còn thiếu ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất của trang trại. + Năm 2017 giá lợn giảm sâu, lợn sản xuất ra thiếu người tiêu thụ.
Năm 2018 tình hình chăn nuôi lợn đang dần khôi phục nhưng người chăn nuôi vẫn còn đang gặp khó khăn trong việc tái đàn và mở rộng quy mô sản xuất. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 2. Sự thành thục về tính và thể vóc * Cơ quan sinh dục của lợn cái gồm: Bộ phận sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình.
+ Âm môn hay còn gọi âm hộ nằm dưới hậu môn. Phía ngoài âm môn có hai môi. Hai môi được nối với nhau bằng hai mép. Trên hai môi của mỗi âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi.
+ Âm vật: nằm ở phía dưới hai mép của âm môn, giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hồng như ở con đực. + Tiền đình: là giới hạn giữa âm môn và âm đạo. Trong tiền đình có dấu vết của màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ niệu đạo.
Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Đức Hùng và cs. h 7 Bộ phận sinh dục bên trong + Âm đạo: có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ, là ống thải các chất dịch từ tử cung. Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, phía trước âm đạo là tử cung, phía sau là tiền đình có màng trinh để che lỗ âm đạo.
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: lớp liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn ở giữa và lớp niêm mạc ở trong. Âm đạo của lợn dài 10 - 12cm. + Buồng trứng: Lợn nái có 2 buồng trứng hình hạt đậu, đường kính trung bình 0,8 - 1,2cm. Buồng trứng được cấu tạo bởi 2 vùng (trong là vùng tủy chứa mạch máu và dây thẩn kinh, ngoài là vùng vỏ, tại đây chứa vô số các noãn bao phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong các noãn bao có chứa tế bào trứng).
Các noãn bao phát triển qua từng giai đoạn, khi thành thục và chín noãn bao vỡ ra, trứng rụng xuống loa kèn, tại vị trí bao noãn cũ sẽ hình thành nên thể vàng (hoàng thể). Mỗi lần động dục buồng trứng lợn nái có thể rụng 10 - 30 noãn bào.