Đặt vấn đề Ở nước ta, trồng trọt và chăn nuôi có vai trò rất quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp, chúng có quan hệ gắn bó hỗ trợ nhau cùng phát triển. Ngành chăn nuôi đã đem lại lợi nhuận kinh tế đáng kể cho đất nước đặc biệt là chăn nuôi lợn. Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Song song với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau thì ngành chăn nuôi giữ một vị trí rất quan trọng, đóng góp một phần rất lớn trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Trong đó, chăn nuôi lợn là một bộ phận rất quan trọng trong ngành chăn nuôi. Hàng năm, ngành chăn nuôi lợn đã cung cấp một khối lượng lớn thịt, mỡ làm thực phẩm cho con người. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ của nó làm nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến. Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người mà còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người sử dụng nó.
Thịt lợn chiếm 75 - 80% so với các loại thịt trong chăn nuôi. Để đáp ứng được nhu cầu bức thiết này, Đảng và Nhà nước đang hết sức chú ý đến việc phát triển chăn nuôi lợn. Đồng thời các nhà khoa học nước ta cũng đã lai tạo đàn lợn nội và các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao. Cùng với đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, mô hình chăn nuôi lợn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao với các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng và không ngừng quan tâm đầu tư phát triển ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng.
Để phát triển h 2 chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt các khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, đảm bảo lợn con sinh trưởng nhanh, khỏe mạnh và cung cấp con giống có chất lượng tốt cho xã hội. Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn nhất của chăn nuôi lợn nái sinh sản là dịch bệnh còn xảy ra phổ biến gây nhiều thiệt hại cho đàn lợn nái nuôi trong các trang trại cũng như nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình. Đối với lợn nái nhất là lợn ngoại được chăn nuôi theo phương thức công nghiệp cho nên tỷ lệ mắc bệnh sinh sản ngày càng nhiều hơn do khả năng thích nghi của đàn lợn nái với điều kiện ngoại cảnh nước ta còn kém. Mặt khác trong quá trình sinh đẻ lợn nái dễ bị nhiễm các vi khuẩn như Streptococcus, E.coli… xâm nhập và gây nhiễm trùng và dễ mắc các bệnh như viêm tử cung, hội chứng mất sữa, bại liệt đây là các loại bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ.
Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt nhưng gây thiệt hại lớn cho lợn nái: gây chết thai, lưu thai, sẩy thai…nghiêm trọng hơn bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại Thanh Vân - Xã Thanh Vân - Huyện Tam Dương - Tỉnh Vĩnh Phúc ”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích Tìm hiểu tình hình chăn nuôi tại trại lợn Thanh Vân - Xã Thanh Vân - Huyện Tam Dương - Tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiểu biết về quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản. h 3 Biết được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai. Xác định được các bệnh thường xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất Đánh giá việc áp dụng được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn con theo mẹ Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng và trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. Yêu cầu Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Thanh Vân, Tam Dương, Vĩnh Phúc.
Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và đàn lợn con theo mẹ tại trại. Xác định được phác đồ điều trị có hiệu quả một số bệnh cho lợn nái sinh sản và đàn lợn con nuôi tại trại. Xác định được tình hình nhiễm bệnh của lợn nái và đàn lợn con nuôi tại trại. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Trại lợn Thanh Vân được xây dựng trên địa bàn huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Huyện Tam Dương có vị trí địa lý được xác định như sau: Tam Dương là huyện nằm ở khu vực trung tâm tỉnh Vĩnh Phúc, tổng diện tích tự nhiên năm 2009 là 10.
Phía Bắc giáp huyện Tam Đảo, huyện Lập Thạch, huyện Sông Lô. Phía Nam giáp Thành phố Vĩnh Yên và huyện Yên Lạc. Phía Đông giáp huyện Bình xuyên. Phía Tây giáp huyện Lập Thạch và Vĩnh Tường.
- Huyện hiện có 13 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn: Thị trấn Hợp Hòa, các xã: Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Hướng Đạo, An Hòa, Đạo Tú, Kim Long, Duy Phiên, Hoàng Đan, Thanh Vân, Hợp Thịnh, Vân Hội và xã Hoàng Lâu. Là đơn vị hành chính của tỉnh có địa thế chuyển tiếp giữa đồng bằng trung du và miền núi; nằm trên trục phát triển quan trọng, kết nối Sơn Dương - Tam Đảo - Việt Trì - Vĩnh Yên - Phúc Yên và thủ đô Hà Nội. Tam Dương giáp ranh với Thành phố Vĩnh Yên - là trung tâm chính trị kinh tế xã hội của tỉnh đồng thời cũng tiếp giáp với huyện Tam Đảo; gần kề với nhiều trung tâm phát triển; khu công nghiệp, khu nghỉ mát; có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh. h 5 Điều kiện khí hậu Tam Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, được chia thành 4 mùa rõ rệt.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 0C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, tháng 7 là 29,40C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 100C thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng. Bình quân số giờ nắng trong năm là 1400 - 1600 giờ/năm. Lượng mưa trung bình hàng năm 1400 - 1500 mm, phân bố không đều, tập trung vào tháng 6, 7, 8 và 9. Độ ẩm không khí trung bình cao từ 80 - 84%, tương đối đều các tháng trong năm.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu, thủy văn của huyện thuận lợi cho sự phát triển hệ sinh thái động, thực vật đa dạng cũng như các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên khí hậu thủy văn ở Tam Dương cũng có nét riêng biệt là do dãy núi Tam Đảo chắn hướng gió mùa Đông Bắc nên thường xảy ra mưa nhiều, thỉnh thoảng có gió xoáy, tạo lốc, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống dân sinh. Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập Trại lợn Thanh Vân - huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập năm 2012. Trang trại sản xuất lợn giống nằm trên địa phận xóm Trại, xã Thanh Vân, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trại thuộc quản lý công ty TNHH Japfa Comfeed Việt Nam. Cơ sở vật chất của trang trại Trại lợn Thanh Vân có khoảng 10ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Khu nhà ở của công nhân được xây ở đầu hướng gió; nhà ở được lợp mái tôn lạnh, có một dãy nhà ở có 8 phòng ở. Khu nhà ăn xây dựng khang trang, sạch sẽ.
Khu nấu ăn được trang bị tủ lạnh, bếp ga để thuận tiện cho việc bảo quản và chế biến thức ăn. h 6 Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho hơn 1200 nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 60 ô kích thước 2,4m × 1,6m/ô, hai chuồng bầu mỗi chuồng có 576 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô, một chuồng đực giống + nái hậu bị có 50 ô kích thước 5m × 6m. Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc. Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn.
Mỗi chuồng đều có hệ thống dàn mát được đặt ở đầu chuồng, đảm bảo cho chuồng lợn luôn mát mẻ. Mỗi chuồng được lắp đặt 3 quạt thông gió (đối với chuồng đẻ), 12 quạt (đối với chuồng bầu) đặt ở cuối chuồng, tùy theo điều kiện thời tiết, khí hậu, nhiệt độ chuồng nuôi mà ta điều chỉnh quạt cho hợp lý. Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác. Bên ngoài là hệ thống đường đi để đuổi lợn qua các khu chuồng.
Lợn được phối và được chăm sóc ở chuồng bầu 1 sau khi bắt lốc và siêu âm thai thì được đuổi sang chuồng bầu 2 để chăm sóc. Trước ngày đẻ dự kiến từ 5 - 7 ngày thì đuổi sang chuồng đẻ. Khu chuồng đẻ gồm 6 chuồng: 1 chuồng chờ đẻ, chuồng 1 tuần sau đẻ, chuồng 2 tuần sau đẻ, chuồng 3 tuần sau đẻ, chuồng cai sữa và 1 chuồng vệ sinh. Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan.
Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ hồ gần trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau: 01 trưởng trại 02 kỹ thuật trại h 7 01 kế toán 12 công nhân và 3 sinh viên thực tập 02 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa. Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 2.