Đặt vấn đề Một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam chính là ngành chăn nuôi, là nguồn cung cấp thực phẩm thiết yếu chính cho người dân. Ngành chăn nuôi gia cầm phát triển đã góp phần giải quyết vấn đề việc làm, cũng như nâng cao mức thu nhập cho người nông dân, đồng thời tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trong những năm gần đây, xu thế của nền kinh tế đang chuyển đổi, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, nhu cầu về thực phẩm cũng có đòi hỏi lớn hơn từ mẫu mã đến chất lượng. Để đảm bảo chủ động nguồn cung đó ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phát triển với mục tiêu đạt năng suất cao, sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng.
Ngành chăn nuôi nước ta đang là lĩnh vực đóng góp chính cho ngành nông nghiệp với tốc độ phát triển khá cao, rất đồng bộ và toàn diện đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Nhu cầu thực phẩm của người dân ngày một nhiều cả về chất lượng lẫn số lượng, để đáp ứng nhu cầu ấy đã có nhiều giống gà có khả năng sản xuất thịt, trứng được đưa vào chăn nuôi theo hướng công nghiệp. Gà Hồ lai là con lai giữa gà bố là gà Hồ và gà mẹ Lương Phượng, do vậy chúng được thừa hưởng những ưu điểm nổi trội của bố mẹ. Gà Hồ lai tăng trưởng nhanh, dễ nuôi, thịt ăn thơm ngon, mã đỏ mận, lông ốp và có đặc điểm mào sít tương đối giống với gà lai chọi.
Gà Hồ lai đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và đặc biệt giá bán cao hơn hẳn so với gà ri. Gà Hồ lai đặc biệt khá dễ nuôi (khả năng sống đạt 95-97%) kháng bệnh tốt, lớn nhanh hơn so với gà ta lai. Chính vì vậy có thể nói gà Hồ lai rất phù hợp với thị yếu của n 2 Việt Nam, đầu ra ổn định mà giá lại cao nên có thể yên tâm với mô hình chăn nuôi quy mô lớn. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, miền Bắc với khí hậu nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh.
Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm, bệnh về hô hấp, đường ruột,. Thực tế cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, newcastle, kí sinh trùng… Những loại bệnh này gây ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà theo hướng sản xuất hàng hóa. Để ngành chăn nuôi gà của nước ta phát triển vững mạnh là mũi nhọn trong nền chăn nuôi nước ta.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của BCN Khoa Chăn nuôi Thú y- trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo TS. Phùng Đức Hoàn em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho gà Hồ lai tại cơ sở kinh doanh thuốc Thú y Khương Huệ, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên ”. Mục đích của chuyên đề 1. Mục đích - Học hỏi được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà lai Hồ tại cơ sở - Tìm hiểu tình hình nhiễm bệnh, phòng trị bệnh gà lai Hồ tại trang trại - Nắm được và thành thạo lịch tiêm phòng vắc xin.
- Tạo cho mình được kiến thức về chuyên môn cao, nâng cao tay nghề. - Hoàn thành kỳ thực tập nghề nghiệp với kết quả tốt. Yêu cầu - Đánh giá quy trình chăn nuôi tại trang trại. - Nắm bắt được các đặc điểm sinh lý, sinh trưởng, dinh dưỡng ở gà thịt.
n 3 - Hiểu được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà thịt. - Biết cách phòng bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn gà thịt. Phương hướng thực hiện - Chăm chỉ học hỏi - Không ngại khó ngại khổ - Làm việc với tinh thần hăng say, yêu nghề. - Thu thập đầy đủ, chính xác các số liệu về chỉ tiêu và khả năng sinh trưởng trên gà thịt.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên, nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 5 km, có vị trí địa lý giáp các huyện Võ Nhai (Thái Nguyên), huyện Chợ Mới (Bắc Kạn), huyện Phú Bình, thành phố Thái Nguyên, huyện Yên Thế (Bắc Giang), huyện Phú Lương.
Huyện có diện tích tự nhiên 427,73 km², dân số 92. Huyện Đồng Hỷ là huyện miền núi nên có nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú. Địa hình là vùng núi nên có sự phân tầng độ cao rõ rệt. Khí hậu mang rõ nét tính chất của vùng Đông Bắc Việt Nam cận nhiệt đới ẩm, hội tụ đầy đủ để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện.
Huyện Đồng Hỷ có hai con sông chính: Sông Cầu và sông Linh Nham. Từ các con sông lớn, có các sông, ngòi nhỏ chạy len lỏi vào tới tận các thôn, xã tạo thuận lợi cho việc tới tiêu và cũng là hệ thống giao thông thủy quan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa, quân sự giữa các vùng, giữa Đồng Hỷ và các huyện trong tỉnh và các tỉnh khác. Đồng thời thuận lợi cho kinh tế thủy sản, đặc biệt chăn nuôi gia cầm có giá trị kinh tế cao. Giao thông đường bộ có đường Quốc lộ 1B cũ; Quốc lộ 1B mới từ xã Hóa Thượng, huyện Đồng Hỷ đến phường Tân Long, thành phố Thái Nguyên; Tỉnh lộ 269 chạy từ phường chùa Hang, thành phố Thái Nguyên về xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai và Quốc lộ 17.
Huyện Đồng Hỷ có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn: Sông Cầu, Trại Cau và 13 xã: Cây Thị, Hóa Thượng (huyện lỵ), Hóa Trung, n 5 Hòa Bình, Hợp Tiến, Khe Mo, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng. Đặc điểm khí hậu Huyện Đồng Hỷ thuộc khí hậu vùng đông bắc Việt Nam, nằm trong vùng ấm của tỉnh Thái Nguyên nơi đây hàng năm có 2 mùa rõ rệt với mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều. • Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22 °C- 23°C • Hàng năm lượng mưa trung bình là khoảng 2.500 mm/năm, độ ẩm trung bình là 82%. • Nhiệt độ không khí trung bình là 23°C • Mưa bão xuất hiện vào tháng 7,8,9 đi kèm giông lốc và mưa đá, sương muối thường xuất hiện vào các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 khi nhiệt độ xuống thấp.
Tài Nguyên Khoáng sản của huyện Đồng Hỷ khá đa dạng, có giá trị nhất là khoáng sản làm vật liệu xây dựng và đóng góp cho nền kinh tế của huyện, tỉnh cũng rất đáng kể. Qua nhiều cuộc nghiên cứu, khảo sát tìm kiếm đã phát hiện huyện Đồng Hỷ có vàng sa khoáng ở các khu vực Ngàn Me, Cây Thị, cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1 - 3 triệu tấn). Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều loại hình khoáng sản bao gồm: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit. Khoáng sản trọng tâm mang lại nhiều giá trị kinh tế là đá xây dựng.
Điều kiện kinh tế xã hội Về kinh tế, huyện Đồng Hỷ vốn là một huyện với nền kinh tế nông nghiệp, thành phần chính là kinh tế tập thể. Hai thành phần chính của nền nông nghiệp huyện là cây lương thực (lúa và hoa màu) và cây chè. Ngân sách n 6 của huyện cũng tăng dần theo từng năm với một tốc độ tăng trưởng rất đáng kì vọng. Huyện Đồng Hỷ có nhiều thuận lợi từ vị trí địa lý đến tài nguyên khoáng sản phong phú để phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, huyện cũng có nhiều khu du lịch và các di tích lịch sự các mạng để phát triển du lịch. Tình hình kinh tế xã hội của huyện Đồng Hỷ những năm gần đây ngày càng có những bước phát triển vững chắc. Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp chuyển dịch đúng hướng, tăng tỉ trọng ngành Công nghiệp, Thương mại - Dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành Nông nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu tăng vượt bậc cụ thể: năm 2020, giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng 8,2% so với cùng kỳ, giá trị sản xuất ngành Nông – Lâm - Thủy sản tăng 3,5% so với cùng kỳ, thu ngân sách cân đối ước đạt 63,2 tỷ đồng, bằng 55,61% dự toán tỉnh giao,.
Theo số liệu năm 2006 về mức sống của cư dân: tỷ lệ hộ giàu chiếm 20,7%, hộ trung bình chiếm 59,2%, hộ nghèo chiếm 21% và không còn hộ đói. Mô tả sơ lược cơ sở vật chất của trang trại - Địa điểm: Cơ sở kinh doanh thuốc thú y Khương Huệ , phường Chùa Hang, Thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên. - Chuồng trại xây theo hướng Đông – Tây, nền chuồng cao hơn mặt đất từ 30-40cm tránh hiện tượng nồm ẩm, dễ ướt và hay mắc bệnh cầu trùng. - Chuồng hở nển khoảng cách từ mặt đất lên đến mái hiên 2,8m - 3,0m nếu có điều kiện hơn thì xây chuồng mái đôi.
Xung quanh tường xây cao khoảng 30 - 40 cm và phía trên căng lưới B40 để đảm bảo độ thông thoáng cho chuồng nuôi, bên ngoài kéo bạt để che mưa gió, mái hiên nên có chiều dài 1,5 - 2m , chuồng gà thịt nên chia ra làm nhiều ngăn mỗi ngăn khoảng 500- 1000 gà để tránh bị xô đàn và đảm bảo mật độ nuôi nhốt 10 con/m. - Đối với chuồng hở bạt phải được kéo từ dưới lên. - Diện tích trại hơn 20. n 7 - Trang trại có 3 chuồng nuôi và khác nhau về diện tích nên mật độ nuôi giữa các chuồng khác nhau, dao động từ 3000 - 8000 gà.
- Chuồng 3000 gà có chiều dài 30m, rộng 10m. - Chuồng 5000 gà có chiều dài 50m, rộng 12m. - Chuồng 8000 gà có chiều dài 85m, rộng 11m. - Có hai cổng: cổng chính dùng để xe chở cám, xe thuốc ra vào và cổng phụ ở cuối chuồng để xe tiêu hủy gà chết, xe chở trấu và xe bắt gà ra vào.
- Trại được thiết kế nằm xa khu dân cư, xa bãi rác, trường học, chợ. Có nhà sát trùng ở cổng vào. - Để giải phóng sức lao động người chăn nuôi trang bị được lắp đặt hệ thống ăn tự động, đường ống uống tự động.