Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi có xu hướng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm đang giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm có giá trị như: Thịt, trứng,. cho nhu cầu của xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng cao, nhu cầu thực phẩm đòi hỏi lớn hơn, ngon hơn. Do đó đã thúc đẩy chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển đạt năng suất cao, sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng hướng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, bước đầu đạt kết quả tốt.
Theo chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 đã được chính phủ phê duyệt ngày 16/01/2008, chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi nước ta trong nhiều năm tới. Các giống gia cầm nhập nội như: Ross, Isa, Sasso, Lương Phượng. có khả năng sản xuất cao. Tuy nhiên các giống gà cao sản lại đòi hỏi cao về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.
Trong khi đó các giống gà nội như gà Ác, Đông Tảo, Ri, Mía, Hồ. thì có lợi thế về chất lượng thịt, trứng nhưng năng suất lại thấp. Đặc biệt là trong những năm gần đây phong trào nuôi gà Ác đang lên cao và đem lại nguồn thu không nhỏ cho người dân. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn gà Ác giai đoạn 1-10 tuần tuổi nuôi tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục tiêu của chuyên đề - Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà Ác. - Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh trên đàn gà Ác. Yêu cầu của chuyên đề - Học hỏi và thực hiện tốt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà tại trại. - Học hỏi và thực hiện tốt quy trình vệ sinh, phòng và điều trị bệnh cho đàn gà tại trại.
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y được xây dựng trên nền của khu trại gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học từ năm 2013.
Vị trí: + Phía đông giáp ao nuôi thủy sản. + Phía tây giáp vườn ươm viện nghiên cứu. + Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng. + Phía bắc giáp khoa CNTP và CNSH.
* Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3. Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6m2 và 2 kho rộng 40m2, phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát. Toàn bộ khu vực được rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220m, đảm bảo ngăn cách với các khu vực khác. * Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2 được chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên.
* Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2. Trong đó hố sát trùng 20m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10m2. * Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120m2. Trong đó có các công trình như: 01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20m2 01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30m2 01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50m2 01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót….
Đối tượng và kết quả sản suất Sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, trại tiến hành đưa vào nuôi hơn 800 gà thương phẩm ác lai các giống Ai Cập theo mô hình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học. Ngoài ra, Trại còn nuôi khoảng gần 180 con gà các giống như: Gà trọi, gà rừng, gà đa cựa, gà đa ngón nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học và bảo tồn các giống gà này. Hiện nay, trại đang có gần 500 con gà thương phẩm gà Mía lai Lương Phượng, 300 con gà Ác, gần 100 con gà thương phẩm các giống H‘mông, gà chọi, 124 gà sinh sản.1 Số lượng đàn gà của các năm (con) Số lượng đàn gà của các năm (con) Loại gà Năm 2017 Tháng 5/2018 Tháng 11/2018 Gà đẻ 1000 30 124 Gà thịt 300 150 900 Tổng số 1300 180 1024 2. Cơ sở khoa học của chuyên đề 2.
Nguồn gốc của gia cầm Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã. Qua quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các giống gia cầm ngày nay. Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn Độ hay gà Ác một trong bốn loại hình của gà rừng được thuần hóa đầu tiên.
Gà Ác thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng. Khối lượng gà trưởng thành: Gà mái khoảng 0,7 kg; gà trống khoảng 1,0 - 1,1 kg. h 5 Gà Ác có lông màu đen. Gà trống có lông cổ màu đen, lông mình đen, lông cánh ánh đen, lông bụng pha đen.
Gà mái lông đen, trắng đến hoa mơ. Mỏ, chân đen. Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia cầm chưa thật đầy đủ. Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà đầu tiên ở Đông Nam Á.
Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau. Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời. Phổ biến là giống gà Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm. Trải qua quá trình phát triển nông nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,… những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã được tạo nên.
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [10], vị trí sắp xếp của gà trong giới động vật học như sau: Giới (Kingdom): Animan Ngành (Phylum): Chodata Lớp (Class): Aver Bộ (Order): Galliformes Họ (Famili): Phasiamictace Chủng (Genus): Gallus Loài (Species): Gallus Gallus h 6 2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm.
Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối lượng thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001[2]). * Tiêu hóa ở miệng Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác.
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa. Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.
h 7 *Tiêu hóa ở diều Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân. *Tiêu hóa ở dạ dày Tiêu hóa ở dạ dày tuyến Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển.
Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối. Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5. Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric.
Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên. Tiêu hóa ở dạ dày cơ Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm. Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan.
Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua)Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều). Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột. Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều). Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều.