Đặt vấn đề Nghề chăn nuôi gia cầm của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời và chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn nuôi của Việt Nam. Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người, đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi gia cầm đã giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao.
Theo kết quả điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn gia cầm cả nước ước có 385,5 triệu con, tăng khoảng 6,6%, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 1,03 triệu tấn, tăng 7,3%, sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 12,6%. Một số tỉnh có sản lượng trứng gia cầm lớn tăng cao là: Thái Nguyên tăng 33,04%, Bắc Giang tăng 15,02%; Phú Thọ tăng 41,58%; Thanh Hóa tăng 14,86%; Hà Tĩnh tăng 19,48%; Bình Định tăng 27,81%; Lâm Đồng tăng 18,23%; Long An tăng 26,97%; Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99%. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. h 2 Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trang trại của ông Nguyễn Hồng Phong, Đồng Hỷ, Thái Nguyên”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục đích của chuyên đề - Thực hiện thành thạo quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt. - Biết được lịch phòng bệnh trên gà thịt. - Biết cách chẩn đoán một số bệnh thường gặp trên trên đàn gà thịt và đưa ra phác đồ điều trị bệnh hiệu quả cho gà thịt. Yêu cầu của chuyên đề - Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt.
- Biết cách phòng bệnh cho gà thịt. - Biết được cách chẩn đoán và điều trị bệnh. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Đồng Hỷ là một huyện miền núi phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên.73 km2, dân số 88. Huyện lỵ đặt tại thị trấn Chùa Hang, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 3 km về phía Đông Bắc. Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21°32’ đến 21°51’độ vĩ bắc, 105°46’ đến 106°04’ độ kinh đông. Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn, phía Nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên.
Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lượn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng Bắc - Nam xuống đến đập Thác Huống. Huyện Đồng Hỷ gồm 3 thị trấn là: thị trấn Chùa Hang, thị trấn Sông Cầu, thị trấn Trại Cau và 17 xã: Văn Lăng, Hòa Bình, Tân Long, Quang Sơn, Hóa Thượng, Hóa Trung, Minh Lập, Cao Ngạn, Đồng Bẩm, Khe Mo, Văn Hán, Linh Sơn, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây Thị, Hợp Tiến, Huống Thượng. Địa hình đất đai: đồi núi xen kẽ các thung lũng, đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2 % và đất cho sử dụng chiếm 25,7 %. Núi Chùa Hang - xa còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay.
Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên. Núi Voi, còn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh, ở xã Hoá Thượng. Thế núi hiểm trở, giống hình con voi. h 4 Khí hậu: Khí hậu Đồng Hỷ chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô.
• Nhiệt độ không khí trung bình 23 °C, tháng cao nhất là 28 °C, tháng thấp nhất là 16,1 °C. • Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng cao nhất là 86%, tháng thấp nhất là 78%. • Khí hậu chia thành 2 mùa, mùa mưa và mùa khô, lượng mưa trung bình khoảng 2.500 mm/năm Tài Nguyên Đồng Hỷ có vàng sa khoáng ở khu vực Ngàn Me, Cây Thị, cụm mỏ sắt Trại Cau (trữ lượng khoảng 20 triệu tấn) và mỏ Linh Sơn (trữ lượng từ 1 - 3 triệu tấn). Ngoài ra, Đồng Hỷ còn có nhiều khoáng sản như: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit.
Điều kiện kinh tế xã hội Hầu hết các xã, thị trấn ở Đồng Hỷ có đường ô tô đến trung tâm. Đất đai ở Đồng Hỷ thích hợp cho việc trồng rừng, trồng lúa, nấm, rau màu và chăn nuôi gia cầm… Những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều chỉ tiêu đạt cao so với kế hoạch như: sản lượng lương thực có hạt cả năm ước đạt 52,7 nghìn tấn, vượt 17% kế hoạch; diện tích trồng rừng đạt gần 1,5 nghìn ha, vượt 49% kế hoạch; thu ngân sách trong cân đối đạt gần 123 tỷ đồng, vượt 33% dự toán tỉnh giao… Người dân trên địa bàn huyện chủ yếu là nông dân làm ruộng, trồng chè, trồng cây, chăn nuôi tại địa phương và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ. Điều kiện cơ sở vật chất của trại Trang trại được xây dựng từ năm 2010.
Hiện nay cơ sở vật chất đang dần xuống cấp. - Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh. h 5 - Trang trại gồm 2 dãy chuồng cách nhau 15 mét, mỗi chuồng gồm có 2 tầng, với quy mô nuôi được 2 vạn gà/lứa. - Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, toàn bộ là sử dụng sức lao động của con người.
Máng uống nước tự động, mỗi tầng của một dãy chuồng gồm 5 dãy máng ăn và 4 đường nước uống. Nền trại bê tông và mái được lợp bằng tấm lợp fibro xi măng có một lớp chấu dày 5 - 7cm để cách nhiệt. - Có 4 kho cám, 2 máy phát điện, mỗi tầng có 6 quạt thông gió. - Trong một tầng của mỗi chuồng có 3 nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi.
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan công nghiệp. - Hệ thống điện của trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện. - Mỗi chuồng được lắp đặt một camera theo dõi. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau : - Diện tích chuồng trại là 1800m2 (2 chuồng, 4 tầng).
- Gồm 2 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 8. - Mỗi chuồng có chiều dài 50 m, chiều rộng 9 m, chiều cao mỗi tầng 1,8 m. - Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 2 camera theo dõi quanh khu vực trại. - Đội ngũ cán bộ, quản lý, kỹ thuật, công nhân gồm: 01 chủ trại (quản lý), 01 kĩ sư, 03 công nhân, 01 sinh viên thực tập - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại luôn tạo điều kiện cho sinh viên cũng như người lao động chỗ ăn, chỗ ở và sinh hoạt thuận lợi nhất.
Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm của gà broiler - Gà broiler có lông màu trắng, chân cao, mào cờ, thân hình cân đối, sản lượng trứng 60 tuần tuổi 131quả. Chúng gồm 4 dòng thuần Bl, El, B4, E3.
- Trong đó dòng Bl và El được dùng làm dòng trống có nguồn gốc từ giống Comish trắng. B4 và E3 là 2 dòng mái có nguồn gốc từ giống Plymouth trắng. Gà broiler có ưu thế khi được lai với các dòng gà mái khác cho con lai thương phẩm hướng thịt. Nuôi 49 - 50 ngày, con mái có trọng lượng 2 - 2,2 kg, con trống đạt 2,1 - 2,3 kg.
Gà mái mỗi năm cho 160 - 170 quả trứng. Công thức lai để tạo ra thương phẩm thịt broiler như sau: gà bố mẹ dùng con trống BE 11 là con lai giữa hai dòng gà Cooc - Nish, còn con mái BE43 là con lai giữa hai dòng gà Plymut. - Gà dòng mẹ BE 43 cho đặc điểm di truyền liên kết giới tính, khi gà con mới nở, con trống mọc lông chậm, gà mái mọc lông nhanh. Do vậy, có thể phân biệt trống mái dễ dàng dựa trên tốc độ mọc lông.
Toàn bộ gà mái được giữ lại làm giống, còn gà trống loại bỏ để nuôi gà thương phẩm. Gà broiler nuôi 8 tuần tuổi đạt 2,2 kg/con mái; 2,7 kg/con trống; tiêu tốn 2,16 kg thức ăn/kg tăng trọng. Tỷ lệ thân thịt 68,3%; tỷ lệ thịt ngực 14,3%; thịt đùi 23,9%. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú.
Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm. Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác (Nguồn cây trông vật nuôi, 2015 [15]). - Tiêu hóa ở miệng: h 7 Gia cầm tìm thức ăn chủ yếu nhờ vào thị giác và xúc giác, rất ít khi nhờ vào khứu giác và vị giác.
Mỏ gà cấu tạo bằng chất sừng, hình thoi có mép trơn và nhọn nên rất thích hợp cho việc lấy thức ăn nhỏ và xé rách khối thức ăn lớn. Mỏ vịt và ngỗng hình bằng, mép thô và có nhiều răng nhỏ bằng chất sừng nên thuận lợi cho việc lấy thức ăn trong nước. Khi đó, nước sẽ qua khe hở của mép chảy ra ngoài, thức ăn được giữ lại ở miệng. Miệng gia cầm không có răng nên không nhai thức ăn.