Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn ở Việt Nam đang tăng trưởng mạnh cả về số lượng và chất lượng. Trong bối cảnh và xu thế toàn cầu hóa, hợp tác đa phương, hợp tác khu vực có nhiều cơ hội và không ít thách thức. Đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2007; khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA - ASEAN Free Trade Area) từ năm 2006. Chăn nuôi lợn hiện nay đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm và dinh dưỡng cho hơn 90 triệu người ở Việt Nam.
Tuy nhiên, để có chỗ đứng và phát triển, ngành chăn nuôi lợn phải sản xuất ra những sản phẩm an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng, đồng thời áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến, hiện đại để tăng năng suất chăn nuôi, giảm khó khăn cho người chăn nuôi. Với sự phát triển của xã hội, nhu cầu sử dụng các sản phẩm chăn nuôi của người tiêu dùng ngày càng cao. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn là rất lớn. Những năm gần đây, hình thức chăn nuôi lợn theo mô hình trang trại phát triển mạnh ở nhiều tỉnh thành.
Với việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào ngành chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước phát triển đáng kể như: quy mô đầu lợn lớn, cơ cấu đàn lợn trẻ hóa, năng suất, sản lượng cao, kháng bệnh tốt, giống lợn đa dạng. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn vẫn gặp nhiều khó khăn khi phải đối mặt với dịch bệnh ngày càng phức tạp do biến chủng của các vi sinh vật. Do nhu cầu của người tiêu dùng tăng và yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, ngành chăn nuôi lợn của nước ta đang chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi gia đình sang chăn nuôi tập trung, quy mô vừa và nhỏ đang lan rộng khắp cả nước. Chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn nái sinh sản là khâu 2 quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm trong chăn nuôi.
Điều quan trọng là phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để chăm sóc lợn đạt hiệu quả tối ưu. Xuất phát từ thực tiễn đó em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn công ty TNHH De Heus” 1. Mục tiêu, yêu cầu 1. Mục tiêu của chuyên đề - Đánh giá sản lượng chăn nuôi tại Trang trại liên kết Công ty TNHH De Heus - Trang trại lợn Bích Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Theo dõi lợn nái trong trại, thực hành chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con theo quy trình kỹ thuật. - Đánh giá tỷ lệ mắc một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ, hiệu quả điều trị bệnh. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình trạng sinh sản của lợn nái tại trang trại Bích Cường - xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. - Thực hành quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản, lợn con theo mẹ và phòng trị bệnh với lợn nái trong cơ sở thực tập.
- Phát hiện được những cá thể mắc bệnh và thực hành điều trị, chăm sóc. - Tìm tòi học hỏi thường xuyên để hoàn thiện bản thân, nâng cao kiến thức chuyên môn, năng lực kĩ thuật thực hành. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về điều kiện cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên Địa điểm: Trang trại chăn nuôi lợn của ông Bùi Mạnh Cường ở thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành là trang trại liên kết với Công ty TNHH De Heus. Trại nằm ở phía nam huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là xã thuần nông, có tuyến quốc lộ 38 chạy qua, tổng diện tích đất tự nhiên là 725 ha. + Phía Đông của xã giáp huyện Lương Tài - Bắc Ninh.
+ Phía Tây của xã giáp huyện Văn Lâm - Hưng Yên. + Phía Nam của xã giáp huyện Cẩm Giàng - Hải Dương. + Phía Bắc giáp xã Ninh Xá - Thuận Thành - Bắc Ninh. Xã cách thị trấn Hồ - huyện Thuận Thành 7 km, cách thành phố Bắc Ninh 25 km về phía Bắc, cách thành phố Hải Dương 30 km về phía nam, đặc biệt chỉ cách thủ đô Hà Nội 30 km theo quốc lộ 282.
Đây là vị trí thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế tạo điều kiện cho nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển toàn diện,. Khí hậu: Trại nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, bốn mùa xuân - hạ - thu - đông. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7, 8, 9, hướng gió chính là Đông Nam. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Vào tháng 1 và tháng 2, chịu ảnh hưởng của đợt không khí lạnh chi phối gió Đông Bắc nên thường có mưa phùn và rét đậm kéo dài. Cơ sở vật chất của trang trại - Tổng diện tích trang trại là 24.896 m2, bao gồm: khu chuồng nuôi, khu sinh hoạt, ao cá, hầm biogas, các công trình phụ trợ khác và khu trồng rau của công nhân trang trại. - Trại có khu bếp ăn, khu sinh hoạt, khu nghỉ ngơi cho cán bộ kỹ thuật trại, công nhân và sinh viên thực tập. - Thức ăn cung cấp cho trang trại: Trang trại sử dụng thịt lợn nuôi trong trang trại và một số loại rau xanh trồng tại trại.
Một số thức ăn khác mua bên ngoài. - Sinh viên làm việc tại trang trại sẽ làm tất cả các công việc như công nhân trong trại, dưới sự hướng dẫn của quản lý và các kỹ thuật viên. Ngoài ra, sinh viên thực tập còn được các kỹ thuật viên hướng dẫn chuyên sâu về các kỹ năng đối phó với dịch bệnh, kinh nghiệm đối phó với các tình huống xảy ra tại trại và ngoài xã hội,… - Bảo hộ lao động: 2 bộ đồ bảo hộ và 1 đôi ủng / người. - Trang trại có hai khu chính là khu sinh hoạt chung của cán bộ công nhân viên và khu sản xuất.
Trong đó, khu sinh hoạt chung của công nhân viên gồm: cổng ra vào trại, phòng bảo vệ, phòng điều hành gồm nơi làm việc của quản trại, kế toán trại và phòng sinh hoạt chung cho công nhân, bếp ăn… Khu vực này phục vụ ngoài giờ làm việc, đáp ứng nhu cầu cơ bản của người lao động. Ngoài ra, trại cũng đã thiết kế thêm nhiều sân chơi đáp ứng nhu cầu giải trí của công nhân viên: sân bóng đá, sân cầu lông, phòng tập gym,. Khu sản xuất chia làm 2 khu riêng biệt gồm: gồm khu chuồng lợn nái, khu chuồng thịt và sau cai sữa đều có lối đi và cổng ra vào riêng biệt. + Chuồng nái gồm dãy chuồng lợn bầu và lợn đẻ.
Từ cổng vào, bên trái là hệ thống chuồng đẻ: gồm 9 chuồng, mỗi chuồng có 2 dãy mỗi dãy gồm 32 ô chuồng. Các ô đều được đánh dấu để dễ nhận biết và ghi nhớ. Hệ thống khung làm bằng inox không rỉ, có các khung 5 được hàn thêm để giảm thiểu lợn mẹ đè lên lợn con. Sàn chuồng lợn mẹ được làm bằng bê tông, sàn chuồng khu vực của lợn con được làm bằng nhựa cứng và có thể dễ dàng tháo lắp, vệ sinh, khử trùng.
Chuồng nuôi lợn con tương đối rộng rãi, một góc chuồng có lồng úm, lồng úm bằng khung sắt, quây tôn xung quanh, cố định bằng vít, đã được vệ sinh sát trùng. Mỗi lồng úm được trang bị một bóng sưởi có công suất 175 - 250W tùy theo mùa, bên ngoài là máng nhựa để tập cho lợn con ăn. Trong mỗi chuồng có 2 vòi uống cho 2 đối tượng lợn là lợn nái và lợn con theo mẹ với kích thước và chiều cao vời phù hợp với từng đối tượng riêng, chiều cao tương ứng cho lợn mẹ và lợn con lần lượt là 40 cm và 10 cm so với bề mặt sàn nhựa. Mỗi chuồng có một hệ thống dàn mát được lắp đặt ở đầu chuồng và 2 quạt thông gió được lắp đặt ở phía cuối chuồng.
Mỗi chuồng còn có hệ thống các cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện. Dãy bên phải là hệ thống chuồng bầu với 1 chuồng chính được lắp đặt 6 dãy, mỗi dãy gồm 45 ô, kích thước 2,4 m×0,65 m/ 1 ô, các ô chuồng đều có vòi uống tự động cao 50 - 55 cm. Cũng giống như chuồng nái đẻ, chuồng nái bầu cũng có hệ thống làm mát với 7 quạt thông gió ở cuối mỗi chuồng. Ngoài ra, còn có 2 chuồng an thai (gọi là group) có sức chứa lên đến 300 con.
Đầu chuồng là hệ thống làm mát và cho ăn tự động, cuối mỗi chuồng là hệ thống thông gió. Đặc biệt, chuồng bầu quản lý lợn với hệ thống quản lý tự động. Mỗi con lợn nái đều được gắn chíp kết nối dữ liệu với phần mềm quản lý thức ăn và phần mềm quản lý năng suất. Hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh được lắp đặt trên trần nhà.
Chuồng có hệ thống ống nước dài dọc hai bên dãy chuồng để dễ dàng vệ sinh, rửa bể, xịt rửa gầm,… Bên dưới cạnh chuồng chính còn có chuồng đực với số lượng 12 lợn đực, 1 phòng tinh (phòng pha tinh của trại với một số trang thiết bị như: kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp 6 cách thủy và một số thiết bị khác), 1 chuồng nái hậu bị gồm 11 ô chuồng, mỗi ô chuồng nuôi từ 8 - 12 con. + Khu chuồng thịt gồm 1 chuồng cách ly, 4 chuồng cai sữa, 4 chuồng thịt, kho chứa thức ăn hỗn hợp, khu sát trùng, kho chứa vật liệu, kho máy phát điện, kho vôi,. Hệ thống chuồng trại hoàn toàn khép kín, hiện đại, đảm bảo vệ sinh môi trường, có hầm biogas tận dụng tốt xử lý phân gia súc, đồng thời làm chất đốt. Ở các chuồng nái đẻ, nái an thai và chuồng thịt, thức ăn cám sẽ được chạy theo hệ thống ống dẫn đến các máng ăn nên rất thuận lợi cho việc chăm sóc cho lợn ăn mỗi ngày.
Tại đường đi lại giữa các ô chuồng và các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng để đảm bảo an toàn, tránh lây mầm bệnh. Trại có hệ thống giếng khoan để cung cấp nước cho khu chăn nuôi. Nước uống cho lợn được cung cấp bằng một bể lớn xây tại đầu chuồng đẻ dẫn thẳng đến hệ thống ống nước bên trong chuồng.