Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi ở Việt Nam là một bộ phận quan trọng cấu thành của nông nghiệp Việt Nam, là nhân tố quan trọng trong nên kinh tế của nước ta. Ngành chăn nuôi không những đáp ứng được nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của nhân dân mà cung cấp cả phân bón cho sản xuất nông nghiệp, cung cấp phụ phẩm cho nghành công nghiệp chế biến. Đây cũng là nguồn thu nhập có ý nghĩa quan trọng của bộ phận không nhỏ người dân hiện nay. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi Việt Nam có nhiều bước phát triển.
Nhiều địa phương thực hiện chuyển đổi cơ cấu nhanh từ chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán sang chăn nuôi gia trại, trại công nghiệp. Trước tình hình đó, các trung tâm giống và các công ty liên doanh đã có nhiều nỗ lực trong việc nhập khẩu các giống lợn ngoại có năng suất cao để cải thiện đàn lợn hiện có ở nước ta. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về thức ăn, giống, chăm sóc quản lý, chuồng trại đã được các trại áp dụng thành công. Trại lợn của anh Đặng Minh Linh tại xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội là một trong các trại chăn nuôi đã chuyển đổi cơ cấu đó.
Với đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, trại đang từng ngày phát triển hơn trong cả quy mô và năng suất để đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Là một kỹ sư tương lai, để theo kịp xu thế phát triển hiện nay thì việc tìm hiểu và áp dụng các quy trình nuôi dưỡng hiện hành là rất cần thiết đối với tôi. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa, thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài khóa luận: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Đặng Minh Linh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1.
Mục tiêu của chuyên đề - Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái tại trại Đặng Minh Linh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại. - Thực hiện chẩn đoán các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế.
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi. Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Đặng Minh Linh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. - Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại. - Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng được các biện pháp phòng trị bệnh.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trại 2. Vị trí địa lý Trại chăn nuôi lợn Đặng Minh Linh tại xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Phía bắc giáp xã Liên Hà. - Phía nam giáp xã Cổ Loa (sát chân thành Cổ Loa). - Phía đông giáp xã Dục Tú. - Phía tây giáp xã Uy Nỗ và thị trấn Đông Anh.
Xuyên qua xã có tuyến đường xe lửa từ Hà Nội đi Lào Cai và Thái Nguyên, giữa hai ga Yên Viên (phía Đông) và ga Đông Anh (phía tây), trên địa bàn xã có một ga xép gọi là ga Cổ loa. Đặc điểm khí hậu Xã Việt Hùng huyện Đông Anh thành phố Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. - Mùa hè, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều. - Mùa đông, thời kỳ đầu khô - lạnh, nhưng cuối mùa lại mưa phùn, ẩm ướt.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện Đông Anh khoảng 25oC, nhiệt độ tuyệt đối cao khoảng 40oC, nhiệt độ tuyệt đối thấp là 2,7oC. Hai tháng nóng nhất trong năm là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất khoảng 30oC. Hai tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bình của tháng thấp nhất khoảng 18oC. Sự biến đổi phức tạp của thời tiết gây nhiều khó khăn trong công tác chăn nuôi, đặc biệt nhiệt độ cao về mùa hè và lạnh giá về mùa đông ảnh hưởng lớn tới 4 việc nuôi dưỡng, khả năng sinh trưởng và mức chịu đựng của vật nuôi.
Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc là rất quan trọng. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: - 01 chủ trại - 01 quản lí trại - 02 kĩ thuật trại - 04 công nhân (gồm cả sinh viên thực tập) Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng nái, tổ chuồng thịt. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được bàn giao đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại. Cơ sở vật chất của trại * Thiết kế xây dựng: Trại có tổng diện tích 6 ha bao gồm: Trước cổng có hệ thống phun khử trùng cho phương tiện ra vào trại.
Có một phòng tắm sát trùng cho người ra vào trại. Trại chia làm hai khu riêng biệt, đó là khu vực điều hành và khu sản xuất. Khu vực điều hành có 01 phòng tiếp khách, 01 phòng làm việc của quản lý trại và khu nhà ở, sinh hoạt. Khu sản xuất gồm: 01 chuồng thịt, 01 chuồng đẻ, 01 chuồng bầu, đang mở rộng thêm 01 chuồng đẻ và 01 chuồng bầu.
Trại có 01 nhà kho để dự trữ thức ăn chăn nuôi ở đầu khu vực sản xuất. 01 kho dự trữ và bảo quản thuốc và vắc xin để ở đầu khu vực sản xuất cạnh kho thức ăn. 01 phòng pha chế và bảo quản tinh ở cạnh kho thuốc. Ở khu vực cuối trại có hệ thống hầm biogas để xử lí phân và nước thải.
5 * Điện, nước: Có hệ thống lưới điện được kéo khắp khu vực trại, có hai máy phát điện được dùng khi mất điện. Nước được cung cấp bởi hệ thống giếng khoan, nước được bơm từ giếng lên bể chứa và được xử lí với Clo. * Chuồng bầu: Gồm 02 chuồng, chuồng bầu cũ chia làm 2 dãy, có sức chứa tối đa là 160 con. Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng.
nền chuồng là nền bê tông, tiện cho công tác vệ sinh khử trùng. Mỗi dãy có 2 ô rộng để chứa lợn đực hoặc lợn nái (đau chân, bỏ ăn, ép giống,.), còn lại là các ô lợn nái. Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao từ 50 - 55 cm. Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng.
Chuồng bầu mới chia làm 4 dãy, có sức chứa tối đa là 320 con. Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 7 quạt hút gió phía cuối chuồng. nền chuồng là tấm đan bê tông, tiện cho công tác vệ sinh khử trùng. Hai dãy đầu Có 06 ô rộng để chứa lợn đực hoặc lợn nái (đau chân, bỏ ăn, ép giống,.), còn lại là các ô lợn nái.
Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao từ 50 - 55 cm. Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc bốn bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng. * Chuồng nái đẻ: Có 02 chuồng nái, chuồng nái cũ chia làm 2 dãy, có sức chứa tối đa là 40 con/chuồng. Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng.
Sàn cho lợn mẹ là sàn tấm đan bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng. Chuồng nái mới, chia làm 2 vách chuồng, mỗi vách chuồng gồm 2 dãy, có sức chứa tối đa là 80 con/chuồng. Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát 6 và 7 quạt hút gió phía cuối chuồng. Sàn cho lợn mẹ là sàn tấm đan bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng.
Mỗi ô đều có vòi uống tự động cho cả lợn con và lợn mẹ, có hệ thống máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 3 - 5 ngày tuổi. Có hệ thống ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm. * Chuồng cai sữa: Có 01 chuồng cai sữa gồm 6 ô, có sức chứa tối đa là 400 con. Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và quạt hút gió phía cuối chuồng.
Toàn bộ sàn cho lợn cai sữa là sàn bê tông, có hệ thống máng ăn tự động và vòi uống tự động, có 2 ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa chuồng. Thuận lợi, khó khăn 2. Thuận lợi Được sự quan tâm của Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện cho sự phát triển của trại. Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân. Con giống tốt, nguồn gốc rõ ràng, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả cao cho trại. Khó khăn Do thời tiết thay đổi, khắc nhiệt nên bệnh trong trại phức tạp gây khó khăn cho công tác điều trị. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 2.
Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái và lợn con theo mẹ 2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc nái có chửa * Quy trình nuôi dưỡng Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [18], cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái có chửa để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển bào thai, nhu cầu duy trì của bản thân lợn mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này. Riêng đối với lợn nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng cho bản thân để tiếp tục lớn lên nữa. Giai đoạn chửa kỳ I, II dùng khẩu phần có tỷ lệ Protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp.
Nhưng giai đoạn II, mức ăn cần phải tăng từ 15 - 20% cao hơn so với giai đoạn chửa kỳ I.