Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi lợn giữ vai trò then chốt trong ngành chăn nuôi gia súc tại Việt Nam và trên thế giới, đóng vai trò là nguồn cung cấp thực phẩm chủ lực, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt và các phụ phẩm (da, mỡ) cho công nghiệp chế biến. Trước yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa, ngành chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ sang phương thức chăn nuôi tập trung quy mô lớn, ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến về chăm sóc, dinh dưỡng và sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.
Trong quy trình sản xuất giống lợn, giai đoạn lợn con theo mẹ (từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi) mang tính quyết định đến tỷ lệ sống, tầm vóc và sức đề kháng của đàn lợn ở các giai đoạn nuôi kế tiếp. Tuy nhiên, đặc điểm sinh lý chưa hoàn thiện khiến lợn con rất mẫn cảm với môi trường và mầm bệnh; tình hình dịch bệnh trên đàn lợn con theo mẹ tại các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận được thực hiện nhằm áp dụng và theo dõi quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng kết hợp các biện pháp thú y phòng trị bệnh tại cơ sở sản xuất giống.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề được xác định cụ thể trong văn bản như sau:
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên các đặc điểm sinh lý học gia súc non, cơ chế bệnh sinh của vi sinh vật đường ruột và quy trình thực hành thú y tại trang trại công nghiệp:
- Đặc điểm sinh lý và miễn dịch của lợn con (0 – 21 ngày tuổi):
- Sinh trưởng: Lợn con tích lũy chất dinh dưỡng rất mạnh (tích lũy 9 – 14 g protein/kg thể trọng/ngày sau 3 tuần tuổi). Khối lượng tăng nhanh nhưng không đồng đều: 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần so với khối lượng sơ sinh. Giai đoạn 3 tuần tuổi xảy ra hiện tượng "khủng hoảng" do hàm lượng hemoglobin trong máu suy giảm kết hợp với sản lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm sút.
- Tiêu hóa: Dạ dày lúc sơ sinh chỉ nặng 6 – 8 g, chứa được 35 – 50 g sữa; sau 3 tuần tăng trọng lượng lên 4 lần. Lợn con dưới 1 tháng tuổi gặp tình trạng thiếu axit HCl tự do (hypohydric), khiến pepsinogen không được kích hoạt thành pepsin hoạt động, làm giảm khả năng tiêu hóa protein từ thức ăn ngoài sữa và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập. Việc tập ăn sớm lúc 5 – 7 ngày tuổi kích thích tế bào vách dạ dày tiết HCl tự do từ ngày thứ 14.
- Điều tiết thân nhiệt: Nước chiếm 82% khối lượng cơ thể lúc sơ sinh; 30 phút sau sinh lượng nước giảm 1,5 – 2% kéo theo giảm thân nhiệt 5 – 10°C. Lớp mỡ dưới da mỏng, lượng glycogen dự trữ thấp, lông thưa, diện tích bề mặt lớn so với thể trọng dẫn đến khả năng tản nhiệt bằng bức xạ cao trong điều kiện lạnh ẩm.
- Miễn dịch: Lợn sơ sinh chưa có kháng thể chủ động, hoàn toàn phụ thuộc vào miễn dịch thụ động qua cơ chế ẩm bào hấp thu $\gamma$-globulin từ sữa đầu (chứa 30 – 35% $\gamma$-globulin trong tổng số 18 – 19% protein sữa đầu). Khả năng hấp thu nguyên vẹn qua thành ruột chỉ diễn ra mạnh nhất trong 24 giờ đầu nhờ chất kháng men antitrypsin. Đến 24 giờ sau sinh, hàm lượng $\gamma$-globulin trong máu đạt 20,3 mg/100 ml và đạt khoảng 24 mg/100 ml lúc 3 tuần tuổi.
- Căn bệnh học thường gặp:
- Trực khuẩn Escherichia coli: Trực khuẩn Gram âm, hiếu khí và kỵ khí tùy tiện. Cấu trúc kháng nguyên gồm kháng nguyên O (nội độc tố màng ngoài, chịu nhiệt 100°C trong 2 giờ), kháng nguyên H (protein lông roi, bị hủy ở 60°C trong 1 giờ) và kháng nguyên K (polysaccharide bề mặt). Vi khuẩn sinh enterotoxin tác động lên niêm mạc nhung mao ruột, làm đảo lộn quá trình trao đổi nước và chất điện giải, gây hội chứng tiêu chảy phân trắng lợn con.
- Mycoplasma hyopneumoniae: Tác nhân gây bệnh viêm phổi truyền nhiễm ở lợn, lây truyền qua đường hô hấp, gây thở thể bụng, còi cọc.
- Streptococcus suis: Cầu khuẩn Gram dương, xâm nhập qua rốn, vết cắt đuôi, bấm nanh hoặc vết thương xây xát đầu gối khi cọ xát với nền chuồng, gây viêm màng não, viêm khớp và nhiễm trùng huyết ở lợn 1 – 6 tuần tuổi.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin: Hồi cứu và trích xuất dữ liệu từ sổ theo dõi phối giống, sổ theo dõi lợn nái đẻ, thẻ nái và sổ xuất bán của trang trại qua các năm 2015, 2016 và 6 tháng đầu năm 2017.
- Phương pháp theo dõi lâm sàng và chẩn đoán: Quan sát trạng thái ăn uống, vận động hằng ngày; đo thân nhiệt qua trực tràng bằng nhiệt kế thủy ngân 42°C trong thời gian 5 – 10 phút (xác định trạng thái bình thường 38 – 40°C hoặc sốt 41 – 42°C); kiểm tra tính chất, màu sắc phân và quan sát vùng hậu môn. Các cá thể bệnh được đánh dấu nhận diện bằng sơn phun sương màu đỏ. Tiến hành mổ khám kiểm tra bệnh tích điển hình trên những cá thể bị chết dưới sự hướng dẫn của kỹ sư trang trại.
- Công thức tính toán chỉ tiêu:
$$\text{Tỷ lệ mắc bệnh (%)} = \frac{\sum \text{Số con mắc bệnh}}{\sum \text{Số con theo dõi}} \times 100$$
$$\text{Tỷ lệ chết (%)} = \frac{\sum \text{Số con chết}}{\sum \text{Số con mắc bệnh}} \times 100$$
$$\text{Tỷ lệ khỏi (%)} = \frac{\sum \text{Số con khỏi}}{\sum \text{Số con điều trị}} \times 100$$
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu theo dõi thực tế và số liệu điều tra được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu bật vai trò kinh tế - kỹ thuật của ngành chăn nuôi lợn, phân tích tính cấp thiết của việc áp dụng quy trình công nghệ chăm sóc lợn con theo mẹ nhằm hạ thấp tỷ lệ chết sơ sinh và nâng cao năng suất đàn nái. Đồng thời, chương này xác định 3 mục tiêu trọng tâm và 3 yêu cầu cụ thể cần đạt được trong thời gian 6 tháng thực tập nghề nghiệp tại cơ sở chăn nuôi.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và hệ thống cơ sở vật chất của trại lợn ông Trần Văn Tuyên. Trang trại có quy mô diện tích 4,2 ha, là trại gia công giữ đàn lợn cụ kỵ (GGP) cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam với quy mô thiết kế 1.200 nái cơ bản. Hệ thống hạ tầng gồm:
- 3 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng chia khu A và B, mỗi dãy có 29 ô chuồng; sàn nhựa cho lợn con, sàn bê tông cho nái).
- 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng gồm 6 dãy, mỗi dãy 89 ô; chuồng 1 tích hợp khu vực ép thử lợn và ô thụ tinh nhân tạo).
- 1 chuồng đực giống (34 ô chuồng cá thể và 1 ô khai thác tinh; sử dụng 2 giống thuần Landrace và Yorkshire; có phòng pha chế tinh trang bị kính hiển vi, máy ép ống, tủ lạnh bảo quản).
- 4 chuồng cách ly (nuôi 30 – 40 lợn hậu bị/chuồng trong thời gian 3 tháng để tiêm vắc xin hoàn thiện).
- Hệ thống chuồng kín kiểm soát tiểu khí hậu bằng giàn làm mát đầu chuồng, quạt hút gió cuối chuồng, bóng đèn hồng ngoại úm lợn con; 5 phòng tắm sát trùng cho nhân sự tại cổng vào khu chăn nuôi.
Bên cạnh đó, chương này tổng kết cơ sở lý luận về giải phẫu, sinh lý tiêu hóa, điều hòa nhiệt, động học hấp thu kháng thể sữa đầu của gia súc non; đặc tính sinh vật học, kháng nguyên và độc tố của vi khuẩn E. coli; nguyên nhân, dịch tễ học của các bệnh phân trắng, viêm phổi do Mycoplasma, viêm khớp do Streptococcus suis; lược khảo các nghiên cứu chế tạo vắc xin, dùng men vi sinh (chế phẩm EM, Bacillus subtilis), kháng sinh phòng trị trong và ngoài nước.
Phần 3: Đối tượng - Nội dung - Phương pháp nghiên cứu
Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu là đàn lợn con 0 – 21 ngày tuổi tại trại Trần Văn Tuyên trong khung thời gian từ ngày 18/11/2016 đến ngày 18/05/2017. Thiết lập quy trình kỹ thuật thao tác hằng ngày: kiểm tra giao ban ca ngày - ca đêm; vệ sinh máng ăn; bắt lợn con vào ô úm, lau sàn nhựa bằng 2 chổi riêng biệt (1 chổi cho ô bình thường, 1 chổi cho ô tiêu chảy); thay thảm ướt ngâm bể hóa chất; cho lợn tập ăn cám hỗn hợp 550SF; vắt sữa đầu hoặc pha sữa hỗ trợ lợn yếu; phun sát trùng Ommicide (tỷ lệ 320 ml/1.000 lít nước, 2 lần/ngày lúc 14h); rắc vôi bột lối đi và gầm chuồng.
Lịch sát trùng hàng tuần tại khu vực chăn nuôi nái được quy chuẩn chi tiết theo bảng sau:
| Thứ trong tuần |
Chuồng nái đẻ |
Chuồng nái chửa |
Chuồng cách ly |
Ngoài khu vực chăn nuôi |
| Chủ nhật |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng toàn bộ khu vực |
| Thứ 2 |
Quét hoặc rắc vôi đường đi |
Phun sát trùng + rắc vôi |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng toàn bộ khu vực |
| Thứ 3 |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng + quét vôi đường đi |
Quét hoặc rắc vôi đường đi |
Phun sát trùng toàn bộ khu vực |
| Thứ 4 |
Xả vôi xút gầm |
Phun sát trùng |
Rắc vôi |
Rắc vôi |
| Thứ 5 |
Phun sát trùng |
Phun ghẻ + xả vôi xút gầm |
Phun ghẻ |
Phun sát trùng |
| Thứ 6 |
Phun sát trùng + rắc vôi |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng |
Phun sát trùng |
| Thứ 7 |
Vệ sinh chuồng |
Vệ sinh chuồng |
Vệ sinh chuồng |
Vệ sinh tổng thể toàn khu |
Quy định các mốc can thiệp thú y cho lợn con: sơ sinh (cắt rốn, bấm nanh); 2 – 3 ngày tuổi (cắt số tai, cắt đuôi, thiến dịch hoàn lợn đực, tiêm sắt Dextran-Fe, cho uống thuốc phòng phân trắng Amoxicol và điện giải); 3 – 4 ngày tuổi (cho uống thuốc phòng cầu trùng); 4 – 6 ngày tuổi (tập ăn thức ăn hoàn chỉnh 550SF); 16 – 18 ngày tuổi (tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn); 21 – 26 ngày tuổi (tiến hành cai sữa).
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương 4 phản ánh các kết quả khảo sát và thực nghiệm:
- Tình hình sản xuất của trang trại qua 3 năm (2015 – 2017): Thống kê quy mô đàn nái sinh sản duy trì ở mức 1.291 – 1.325 con; tỷ lệ phối đạt trung bình đạt 90,67%; số con cai sữa/nái/năm đạt 24,46 con.
- Kết quả trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng lợn con: Tác giả trực tiếp quản lý, chăm sóc 495 lợn con trong 6 tháng thực tập (178 con giai đoạn 0 – 7 ngày tuổi; 163 con giai đoạn 8 – 14 ngày tuổi; 154 con giai đoạn 15 – 21 ngày tuổi).
- Tỷ lệ nuôi sống đến 21 ngày tuổi: Tỷ lệ nuôi sống đạt 94,74% ở lợn đực (234/247 con) và 95,16% ở lợn cái (236/248 con).
- Thực hiện vệ sinh sát trùng: Tác giả trực tiếp thực hiện 160 lần vệ sinh chuồng hằng ngày (đạt 88,89% kế hoạch giao), 25 lần phun sát trùng xung quanh trại (đạt 30,86%) và 65 lần quét, rắc vôi bột lối đi (đạt 40,63%).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đánh giá mức độ hoàn thành chuyên đề, khẳng định tính khả thi của quy trình chăm sóc, vệ sinh và phòng bệnh được áp dụng tại cơ sở, đồng thời đưa ra các đề xuất về quản lý lao động và nâng cấp vật tư kỹ thuật cho trang trại.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm và điều tra thực tế tại trại lợn ông Trần Văn Tuyên thông qua các bảng thống kê sau:
1. Kết quả chỉ tiêu sản xuất và cơ cấu đàn của trang trại (2015 – 2017)
| STT |
Chỉ tiêu theo dõi |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Năm 2017 (6 tháng đầu) |
| 1 |
Tổng số nái sinh sản trung bình (con) |
1.291 |
1.322 |
1.325 |
| 2 |
Lợn nái hậu bị (con) |
100 |
150 |
200 |
| 3 |
Lợn đực giống (con) |
36 |
36 |
37 |
| 4 |
Tổng số lượt phối giống (con) |
3.464 |
3.551 |
2.187 |
| 5 |
Tổng số lượt phối đạt (con) |
3.120 |
3.236 |
2.005 |
| 6 |
Tỷ lệ phối giống đạt (%) |
90,07 |
91,13 |
91,68 |
| 7 |
Tổng số nái xuống đẻ (con) |
3.120 |
3.236 |
2.005 |
| 8 |
Tổng số lợn con sinh ra (con) |
37.564 |
39.058 |
26.065 |
| 9 |
Trung bình số lợn con sinh ra/nái (con) |
12,04 |
12,07 |
13,00 |
| 10 |
Tổng số lợn con chết sơ sinh (con) |
3.009 |
2.707 |
1.428 |
| 11 |
Tỷ lệ lợn con chết sơ sinh (%) |
8,01 |
6,93 |
5,48 |
| 12 |
Trung bình lợn con còn sống/nái (con) |
11,08 |
11,23 |
12,29 |
| 13 |
Tổng số lợn con chết theo mẹ (con) |
2.471 |
2.540 |
1.608 |
| 14 |
Tỷ lệ lợn con chết theo mẹ (%) |
7,15 |
6,99 |
6,53 |
| 15 |
Trung bình số con cai sữa/nái (con) |
10,29 |
10,45 |
11,49 |
| 16 |
Số lợn con xuất bán trung bình/tháng (con) |
2.468 |
2.542 |
2.618 |
Ghi chú: Tỷ lệ phối đạt chung toàn giai đoạn đạt 90,67%; tỷ lệ chết sơ sinh bình quân 8,48%; tỷ lệ chết theo mẹ bình quân 7,53%; trung bình số con cai sữa/nái đạt 10,54 con; năng suất đàn nái đạt 24,46 con cai sữa/nái/năm.
2. Số lượng và tỷ lệ nuôi sống lợn con trực tiếp chăm sóc (tháng 12/2016 – 05/2017)
| Tháng theo dõi |
Số lợn theo dõi (con) |
Phân bố theo ngày tuổi (con) |
|
|
Lợn đực sống/theo dõi (con) |
Tỷ lệ nuôi sống đực (%) |
Lợn cái sống/theo dõi (con) |
Tỷ lệ nuôi sống cái (%) |
|
|
0 - 7 ngày |
8 - 14 ngày |
15 - 21 ngày |
|
|
|
|
| Tháng 12 |
80 |
28 |
26 |
26 |
36 / 38 |
94,74 |
40 / 42 |
95,24 |
| Tháng 1 |
90 |
32 |
30 |
28 |
42 / 43 |
97,67 |
46 / 47 |
97,87 |
| Tháng 2 |
95 |
34 |
31 |
30 |
45 / 47 |
95,74 |
45 / 48 |
93,75 |
| Tháng 3 |
85 |
30 |
28 |
27 |
40 / 43 |
93,02 |
40 / 42 |
95,24 |
| Tháng 4 |
75 |
28 |
25 |
22 |
36 / 39 |
92,31 |
34 / 36 |
94,44 |
| Tháng 5 |
70 |
26 |
23 |
21 |
35 / 37 |
94,59 |
31 / 33 |
93,94 |
| Tổng |
495 |
178 |
163 |
154 |
234 / 247 |
94,74 |
236 / 248 |
95,16 |
3. Khối lượng công việc vệ sinh sát trùng tác giả trực tiếp thực hiện
| STT |
Hạng mục công việc vệ sinh, sát trùng |
Kế hoạch giao (lần) |
Tự thực hiện (lần) |
Tỷ lệ hoàn thành (%) |
| 1 |
Vệ sinh chuồng trại hằng ngày |
180 |
160 |
88,89 |
| 2 |
Phun sát trùng định kỳ xung quanh chuồng trại |
81 |
25 |
30,86 |
| 3 |
Quét và rắc vôi bột lối đi lại trong chuồng |
160 |
65 |
40,63 |
- Đóng góp thực tiễn: Khóa luận ghi nhận và hệ thống hóa chi tiết các thông số sản xuất thực tế tại một cơ sở chăn nuôi lợn giống cụ kỵ (GGP) công nghiệp quy mô hơn 1.300 nái sinh sản. Đề tài chứng minh việc thực hiện đồng bộ quy trình: cho bú sữa đầu sớm, úm ấm chuồng sàn nhựa, thiến, bấm nanh đúng kỹ thuật, tiêm bổ sung Dextran-Fe, phòng cầu trùng lúc 3 ngày tuổi và dùng Amoxicol phòng tiêu chảy giúp nâng tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi đạt trên 94,7%.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế được ghi nhận từ phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu được triển khai trong thời gian 6 tháng (từ tháng 11 đến tháng 5), chủ yếu bao quát giai đoạn khí hậu mùa Đông - Xuân và chuyển mùa, chưa phản ánh đầy đủ biến động năng suất và dịch bệnh qua mùa Hè tại địa bàn miền núi Yên Thủy, Hòa Bình.
- Quy mô nghiên cứu chuyên sâu dừng lại ở mẫu theo dõi trực tiếp 495 lợn con do sinh viên phụ trách, chưa phân tích đối chứng toàn bộ tổng đàn lợn con của toàn trang trại trong cùng thời điểm.
- Công tác chẩn đoán bệnh lý trên đàn lợn con mới dựa trên phương pháp chẩn đoán lâm sàng, kiểm tra trạng thái phân, đo thân nhiệt và mổ khám đại thể; chưa triển khai phân lập định danh vi khuẩn chuyên sâu hoặc làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm để xác định mức độ kháng thuốc của các chủng E. coli tại trại.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Theo dõi biến động bệnh học và tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn con theo mẹ trong chu kỳ trọn vẹn 12 tháng nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố stress nhiệt mùa Hè.
- Thu thập bệnh phẩm phân và bệnh tích đường ruột để nuôi cấy, phân lập vi khuẩn gây bệnh; thực hiện kháng sinh đồ nhằm xây dựng phác đồ điều trị kháng sinh đặc hiệu, hạn chế hiện tượng vi khuẩn quen thuốc tại cơ sở chăn nuôi.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y chuẩn bị thực tập tốt nghiệp tại các trang trại chăn nuôi công nghiệp hoặc thực hiện các đề tài về bệnh đường tiêu hóa trên gia súc non.
- Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi lợn nái sinh sản: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về mô hình tổ chức nhân sự (chia tổ chuồng đẻ, chuồng chửa, kỹ thuật), quy chuẩn thiết kế chuồng trại (chuồng lồng sàn kết hợp, giàn mát, quạt hút), định mức chỉ tiêu kỹ thuật đàn nái GGP (tỷ lệ phối, số con sơ sinh/lứa, số con cai sữa/nái/năm).
- Các nội dung có giá trị ứng dụng trực tiếp: Lịch sát trùng hàng tuần theo ngày (Bảng 3.1) và quy trình can thiệp chăm sóc lợn con từng ngày tuổi (cắt rốn, bấm nanh, tiêm sắt, phòng cầu trùng, tập ăn cám 550SF, lịch vắc xin dịch tả).
Câu hỏi thường gặp
1. Trang trại chăn nuôi ông Trần Văn Tuyên được tổ chức theo hình thức nào và cơ sở hạ tầng được thiết kế cho quy mô bao nhiêu nái?
Trang trại hoạt động theo hình thức nhận nuôi gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam: chủ trại đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thuê công nhân; công ty C.P. đầu tư con giống, thức ăn, thuốc thú y và cử kỹ sư giám sát kỹ thuật. Trang trại có diện tích 4,2 ha, được thiết kế khép kín với quy mô nuôi 1.200 nái cơ bản, bao gồm 3 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng 2 khu A-B, mỗi dãy 29 ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng 6 dãy, mỗi dãy 89 ô), 1 chuồng đực giống (34 ô nuôi và 1 ô khai thác tinh) và 4 chuồng cách ly (nuôi 30 – 40 lợn hậu bị/chuồng trong 3 tháng).
2. Các mốc can thiệp kỹ thuật và phòng bệnh chính cho đàn lợn con từ sơ sinh đến khi cai sữa tại trại được thực hiện vào những ngày tuổi nào?
- Ngay sau khi sinh: Cắt rốn, bấm nanh, cho bú sữa đầu.
- Lợn con 1 – 2 ngày tuổi: Cho uống thuốc Amoxicol và chất điện giải phòng tiêu chảy.
- Lợn con 2 – 3 ngày tuổi: Cắt số tai, cắt đuôi, thiến lợn đực và tiêm bổ sung chế phẩm sắt (Dextran-Fe).
- Lợn con 3 – 4 ngày tuổi: Cho uống thuốc phòng bệnh cầu trùng.
- Lợn con 4 – 6 ngày tuổi: Bắt đầu tập ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF.
- Lợn con 16 – 18 ngày tuổi: Tiêm phòng vắc xin dịch tả lợn.
- Lợn con 21 – 26 ngày tuổi: Tiến hành cai sữa và chuyển chuồng.
3. Tỷ lệ nuôi sống đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi do tác giả trực tiếp theo dõi đạt kết quả như thế nào?
Trong 6 tháng thực tập, tác giả trực tiếp theo dõi 495 lợn con. Tỷ lệ nuôi sống chung đạt 94,74% ở lợn đực (234 con sống/247 con theo dõi) và đạt 95,16% ở lợn cái (236 con sống/248 con theo dõi). Tỷ lệ sống cao nhất ghi nhận vào tháng 1 (lợn đực đạt 97,67%, lợn cái đạt 97,87%); tỷ lệ sống thấp nhất ở lợn đực là tháng 4 (92,31%) và ở lợn cái là tháng 2 (93,75%).
4. Vì sao lợn con dưới 1 tháng tuổi rất dễ mắc bệnh phân trắng do vi khuẩn E. coli và biện pháp kỹ thuật nào được áp dụng để hạn chế?
Theo cơ sở sinh lý học, lợn con dưới 1 tháng tuổi có dịch vị dạ dày chưa tiết ra axit HCl ở dạng tự do (hiện tượng hypohydric), lượng axit tiết ra ít và bị dịch nhầy trung hòa, khiến men pepsinogen không thể hoạt hóa thành pepsin để tiêu hóa protein, đồng thời dạ dày mất đi hàng rào sát khuẩn tự nhiên. Thêm vào đó, chức năng điều nhiệt chưa hoàn chỉnh và hệ vi sinh vật đường ruột có lợi chưa ổn định tạo điều kiện cho vi khuẩn E. coli bám vào nhung mao ruột và tiết độc tố gây tiêu chảy. Để khắc phục, trang trại cho lợn con bú sữa đầu đủ lượng ngay sau sinh để nhận $\gamma$-globulin, giữ ấm chuồng nuôi bằng đèn hồng ngoại trên sàn nhựa, cho tập ăn sớm từ 4 – 6 ngày tuổi nhằm kích thích vách dạ dày tiết HCl tự do sớm từ ngày thứ 14, kết hợp uống Amoxicol phòng bệnh lúc 1 – 2 ngày tuổi.
5. Lịch vệ sinh và phun thuốc sát trùng chuồng trại định kỳ được quy định ra sao?
Theo quy trình của trại, chuồng nái đẻ được phun thuốc sát trùng vào Chủ nhật, Thứ 3, Thứ 5 và Thứ 6; rắc hoặc quét vôi lối đi vào Thứ 2 và Thứ 6; xả vôi xút dưới gầm chuồng vào Thứ 4; làm vệ sinh tổng thể chuồng vào Thứ 7. Thuốc sát trùng Ommicide được phun định kỳ 2 lần/ngày vào lúc 14h với tỷ lệ pha 320 ml cho 1.000 lít nước. Toàn bộ công nhân và sinh viên trước khi vào chuồng làm việc bắt buộc phải đi qua phòng sát trùng, tắm sạch sẽ và mặc quần áo bảo hộ lao động.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Hiền phản ánh toàn diện quy trình tổ chức chăn nuôi, chăm sóc và phòng trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trang trại lợn giống cụ kỵ Trần Văn Tuyên. Nghiên cứu cung cấp số liệu thực chứng về năng suất sinh sản của đàn nái quy mô trên 1.300 con (đạt 24,46 con cai sữa/nái/năm) và khẳng định tỷ lệ nuôi sống lợn con đạt trên 94,7% khi áp dụng đồng bộ các giải pháp giữ ấm, bổ sung sắt, phòng thuốc và an toàn sinh học. Báo cáo là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo chuyên môn rõ ràng cho đào tạo đại học ngành Thú y và ứng dụng kỹ thuật tại các cơ sở chăn nuôi lợn công nghiệp.