Đặt vấn đề Nước ta hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới, nhằm đưa kinh tế nước ta phát triển nhanh hơn mạnh hơn Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách mới trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt quan tâm chú trọng cho phát triển ngành chăn nuôi. Với tiền đề là một nước nông nghiệp đi lên cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chăn nuôi đang có những bước trở mình mạnh mẽ. Không những giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn đang góp phần vào công cuộc làm giàu của đất nước. Đặc biệt là chăn nuôi lợn, hiện nay không chỉ còn là chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng con giống nội giá trị kinh tế thấp.
Mà còn nhờ có các chính sách mở cửa, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự tham gia của các công ty trong nước và ngoài nước trong việc chăn nuôi đã được tăng cường mở rộng theo hướng công nghiệp tập trung, sử dụng con giống ngoại nhập, công nghệ tự động. Chăn nuôi lợn hiện nay đã đem lại một nguồn lợi kinh tế lớn và góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế. Tuy nhiên, do đặc điểm về địa lý cũng như khí hậu nóng ẩm ở nước ta, mà chăn nuôi cũng gặp không ít khó khăn. Từ những điều kiện trên ta cần thực hiện một quy trình chăn nuôi có thể đáp ứng được các yêu cầu trong nước về điều kiện ngoại cảnh cũng như cơ sở vật chất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, cũng như được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực hiện : “Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại chăn nuôi Phát Đạt-Vĩnh Phúc ”. Mục tiêu nghiên cứu - Nhằm nắm vững về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái, lợn con ở các giai đoạn. - Rèn luyện và nâng cao tay nghề, củng cố kiến thức đã học và tìm hiểu thêm những kiến thức thực tế. Yêu cầu nghiên cứu - Nắm bắt được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái và lợn con tại trại Phát Đạt –Vĩnh Phúc.
- Quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh gặp trên đàn lợn tại trại n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu. Phúc Yên là một thị xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
Là đô thị cửa ngõ của tỉnh Vĩnh Phúc, Phúc Yên được xác định như là một trong những đô thị vệ tinh của Vùng thủ đô Hà Nội; là trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, thể dục thể thao và đào tạo, là trung tâm kinh tế công nghiệp- dịch vụ, trung tâm khoa học kỹ thuật và côngnghệ, giữ vị trí chiến lược quan trọng về phát triển công nghiệp và thương mại - du lịch của tỉnh, góp phần kết nối giao lưu phát triển kinh tế với vùng thủ đô Hà Nội Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 Km. Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên. Địa giới hành chính Thị xã Phúc Yên: Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Phúc Yên có hệ thống giao thông đa dạng: đường bộ có các tuyến Quốc lộ 2, Quốc lộ 23, đường xuyên Á Hà Nội - Lào Cai đi qua; có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, giáp cảng hàng không quốc tế Nội Bài, tạo điều kiện cho Phúc Yên tiềm lực, lợi thế để mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, giao lưu kinh tế, văn hoá. Thị xã Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 30 Km.
Thị xã Phúc Yên có n 4 chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên. Thị xã Phúc Yên là một đô thị lớn của tỉnh Vĩnh Phúc, đạt tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2013 và theo quy hoạch là đô thị loại II vào năm 2020, loại I vào năm 2025, là trung tâm công nghiệp, thương nghiệp, du lịch và dịch vụ tổng hợp của tỉnh, đồng thời còn là một trong những trung tâm của vùng. Thị xã Phúc Yên còn có hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hệ thống cung cấp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh. Địa hình, địa chất, khí hậu - thủy văn: Địa hình Thị xã Phúc Yên có địa hình đa dạng, tổng diện tích là 12.029,55 ha, chia thành 2 vùng chính là vùng đồi núi bán sơn địa (Ngọc Thanh, Cao Minh, Xuân Hoà), diện tích 9700 ha; vùng đồng bằng gồm các xã, phường: Nam Viêm, Tiền Châu, Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng Trắc, Trưng Nhị, diện tích 2300 ha, có hồ Đại Lải và nhiều đầm hồ khác có thể phát triển các loại hình du lịch.
Địa chất Nhìn chung, đất đai của Phúc Yên không nhiều, không giàu chất dinh dưỡng nhưng lại nằm gần kề thủ đô Hà Nội cho nên tài nguyên đất của thị xã đã trở thành tài nguyên có giá trị kinh tế cao. Tài nguyên khoáng sản quý hiếm của thị xã hầu như không có gì ngoài đá granit, nước mặt và nước ngầm phong phú đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai. Khí hậu, thủy văn Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông. Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng.
n 5 Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau: Cực đại trung bình năm là 20,5°C Cực đại tuyệt đối 41,6 °C Cực tiểu tuyệt đối 3,1 °C Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%. Hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông – Bắc, về mùa hè là Đông – Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s. Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là 32 m/s.092 người, mật độ dân số là 870 ng/km2.448 người (bao gồm cả quy đổi), mật độ dân số là 1260 ng/km2. Tốc độ tăng dân số tự nhiên của thành phố so với cùng kỳ năm trước đạt khoảng 1,93%.
Dân số của thành phố trong những năm qua có xu hướng tăng nhanh ở khu vực thành thị và tăng không nhiều ở nông thôn. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên so với cùng kỳ năm trước đạt khoảng 1,9%. Điều kiện tự nhiên Phúc Yên có địa hình đa dạng, có cả nông thôn và đô thị, có vùng đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng, có hồ Đại Lải diện tích 525 ha bước đầu đã định hình là khu du lịch; ngoài ra còn có các đầm hồ 2. Quá trình thành lập Trại chăn nuôi công ty Phát Đạt là trại lợn tư nhân do ông Nguyễn Văn Tuấn lập nên, nằm tại thôn Cao Quang xã Cao Minh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Trại được xây dựng năm 2007 và đưa vào sản xuất từ năm 2007 cho đến nay, với quy mô xây dựng cho tổng số nái là 300 con, đây là trại với quy mô khép kín. Là trại công ty đứng đầu là giám đốc thuê kỹ thuật, quản lí trại và công nhân. Cơ sở vật chất của trại Trại được xây dựng trên diện tích gần 5 ha chia làm 2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất. Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm.
Khu chăn nuôi thì gồm 3 phần chính: chuồng đẻ và chuồng bầu và chuồng thịt. Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 2 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng. Mỗi ngăn chuồng lại gồm 48 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô là 2,4 m × 1,6 m/ô. Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 3 quạt thông gió ở cuối chuồng.
Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện. Ngoài 3 chuồng chính, còn có 1 chuồng cai sữa phục vụ cho việc chăm sóc lợn con đã qua 21 ngày tuổi mà chưa được xuất bán. Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 2 chuồng chính, trong mỗi chuồng được lắp đặt 135 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô. Cũng như chuồng đẻ chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 8 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước.
Bên cạnh 2 chuồng chính còn có chuồng đực với sức chứa 20 lợn đực, 3 chuồng cách ly dung để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh, 1 phòng tinh. Thứ 3 là chuồng thịt gồm 3 dãy chuồng chính để nuôi lợn thịt và 1 chuồng cai sữa. Chuồng thịt với hệ thống máng ăn tự động, hệ thống dàn mát và quạt hút tương tự như chuồng bầu và chuồng đẻ. Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung.
n 7 Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được sử lý bằng hóa chất. Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh. Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 01 giám đốc 01 kế toán 01 kỹ thuật kiêm quản lí trại.
03 tổ trưởng (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng thịt ) 15 công nhân (4 công nhân chuồng bầu, 6 chuồng đẻ, 2 cai sữa và 3 công nhân chuồng thịt) 01.