CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VAN ĐÈ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRỌNG DIEM TREN BAO ĐIỆN TU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Báo điện tử Báo điện tử là loại hình báo chí đặc thù, tồn tại trên môi trường mạng Internet. Tuy ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng báo điện tử đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ, được xã hội ưa chuộng.
Sự xuất hiện của báo điện tử cũng đã gây ra nhiều xáo trộn đối với các loại hình báo chí khác. Hiện nay báo điện tử đang chiếm ưu thé, khẳng định sức mạnh của loại hình báo chí mới du ra đời sau nhưng rất nhiều tiềm năng. Thực tế, định nghĩa về báo điện tử đến nay vẫn chưa thống nhất, ngay cả tên gọi loại hình báo này cũng chưa thống nhất, nó có nhiều tên gọi khác nhau: Báo điện tử, báo trực tuyến, báo chí Internet. Thuật ngữ "trực tuyến" (online) trong từ điển tin học được dùng dé chỉ trạng thái của máy tính khi kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động.
Hiện nay thuật ngữ này đang sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực truyền thông nhằm chỉ các khái niệm có cùng đặc tính như nhà báo trực tuyến (online journalist), phát thanh trực tuyến (online radio), truyén hình trực tuyến (online television) và video trực tuyến (online video). Cách gọi này chưa được Việt hóa”. Trong cuốn “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản”, tác giả Nguyễn Thị Trường Giang nêu ra thuật ngữ báo mạng điện tử như sau: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng Internet” [13, tr. Còn tác giả Nguyễn Trí Nhiệm lại đưa ra thuật ngữ báo mạng điện tử trong cuốn “Báo mạng điện tử đặc trưng và phương pháp sáng tạo” là: “một loại hình báo chí phát hành trên mạng Internet, sử dụng công nghệ World Wide Web với ngôn ngữ HTML, dành cho công chúng sử dụng Internet” [51, tr.
Trong cuốn “Các loại hình báo chí truyền thông”, tác giả Dương Xuân Sơn có định nghĩa: “Báo điện tử là một loại hình thông tin đại chúng 18 dựa trên việc khai thác thế mạnh của internet nhằm đem đến cho công chúng những thông tin mới nhất về mọi mặt của đời sống một cách nhanh nhất và toàn diện nhất. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học thì báo điện tử là “loại hình báo chí mà tin tức, tranh ảnh, được hién thị qua màn hình máy tính thông qua kết nối trực tuyến với mạng Internet; phân biệt với báo ảnh, báo hình, báo nói, báo viét. Tại mục 6, Điều 3, Chương | của Luật báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05 tháng 4 năm 2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 có ghi: "Báo điện tử là loại hình báo chỉ sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”. Có thê thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau về báo điện tử từ góc độ nghiên cứu và qua thực tiễn đảo tạo báo chí, trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm về loại hình này như sau: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng mang Internet dé chuyên tải thông tin”.
Đô thị, đô thị trọng điểm Đô thị Hiện nay, “Đô thị” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nước ta. Nó được dùng để phân biệt với khu vực nông thôn, trung du, miền núi. Trong các sách, báo chuyên ngành, giới nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm về đô thị; cụ thể: Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2001“d6 thị được quan niệm là nơi đông dân, tập trung buôn bán như thành phó, thị xã” [49,tr 271]. Theo tác giả Phạm Kim Giao - Học viện Hành chính quốc gia (Bộ Nội vụ), đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sông và làm việc theo cách sông văn minh, hiện đại 19 hơn, khoa học và hiệu quả kinh tế cao.
Đó là phong cách, lối sống thành thị, lối sống công nghiệp [11, tr 6]. Cùng quan điểm trên, coi đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yéu là lao động phi nông nghiệp, theo tác giả Nguyễn Dinh Huong, Nguyễn Hữu Đoàn - Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội thì đô thị còn là điểm có hạ tang cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện [21, tr 5]. Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê chủ biên định nghĩa đô thị là: “Nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thé cả công nghiệp” [39, tr. Trong khi đó, Từ điển Bách khoa Việt Nam lại định nghĩa: Đô thị là không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.
Đô thị được phân loại theo các chức năng kinh tế xã hội như: Đô thị công nghiệp, đô thị hành chính, đô thị du lịch, đô thị cảnh quan.Đồng thời được phân loại theo quy mô dân số. Ở Việt Nam, đô thị được phân làm 4 loại: đô thị rất lớn: trên 1 triệu dân, đô thị lớn: 35 vạn đến dưới 1 triệu dân, đô thi trung bình: 3 vạn đến 10 vạn dân, đô thị nhỏ: dưới 3 vạn dân [37, tr. Trong lĩnh vực pháp luật, quan niệm về đô thị được đề cập trong các văn bản pháp luật; cụ thể: - Nghị định số 72/2001/NĐ-CP năm 2001 quy định về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị có nêu tại khoản 1 Điều 3: "Đô thị bao gồm thành phó, thị xã, thị tran được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định thành lập" [52] - Thông tư liên tịch số 02/2002-TTLT-BXD-TCCBCP năm 2002 quy định: Đô thị là một khu dân cư tập trung có đủ hai điều kiện: Về cấp quản lý, đô thị là thành phó, thị xã, thị tran được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định thành lập; Về trình độ phát triển, đô thị phải đạt được những tiêu 20 chuẩn sau: Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện; Đối với khu vực nội thành phó, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 nguoi/km. - Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đưa ra định nghĩa đô thị tại Điều 3 như sau: Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao, chủ yêu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc day sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc của một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trần.
Mặc dù có các quan niệm khác nhau về đô thị song giới nghiên cứu nước ta vẫn “gap nhau” ở một điểm chung về đô thị đó là đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển nền kinh tế - xã hội của cả nước hay một vùng lãnh thổ. Đô thị trọng điểm Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thì trọng điểm được giải thích là “trong điểm là điểm, nơi được xác định là có vai trò quan trọng so với những điểm, những nơi khác”[50]. Vậy có thê hiểu đô thị trọng điểm là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, có ha tang cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triên nên kinh tê - xã hội của cả nước hay một vùng 21 lãnh thổ, được xác định là có vai trò quan trọng so với những điểm dân cư khác. Theo bảng 1 Phụ lục , Nghị quyết 26/2022/UBTVQHI5 sửa đổi, bé sung một số điều của Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị.
Quy định đánh giá điểm của các tiêu chuẩn của tiêu chí phân loại đô thị quy định về loại đô thị đặc biệt (tức đô thị trọng điểm) là điểm dân cư thỏa mãn tất cả các điều kiện sau: [49]. - Thủ đô hoặc trung tâm tông hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, du lịch, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; - Cơ câu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định; - Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000 người trở lên; - Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km” trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thi đạt từ 12.000 người/knÏ trở lên; - Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên; - Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định. Khung lý thuyết báo chí Tiêu biểu cho khung ký thuyết báo chí có thé kế đến lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự. Thuyết thiết lập chương trình nghị sự cho rằng các cơ quan báo chí và truyền thông căn cứ vào môi trường thông tin thực tế và mục dich dé lựa chọn ra các van dé và nội dung mà họ coi là quan trọng dé cung cap cho công chúng chứ không phải là cung cấp các thông tin mà công chúng cần.