Tổng quan nghiên cứu

Thị trường du lịch Việt Nam chứng kiến bước phát triển vượt bậc với số lượng doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế tăng từ 428 đơn vị năm 2005 lên 1.600 đơn vị vào năm 2016, đạt mức tăng trưởng 273,8% sau 11 năm. Sự bùng nổ này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện khung khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động của các công ty du lịch. Thực tiễn áp dụng Luật Du lịch năm 2005 đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn, tạo ra sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế quản lý lữ hành nội địa và lữ hành quốc tế, làm gia tăng nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của du khách.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của tác giả Giả Thị Tố Sương tập trung nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về quy chế pháp lý của công ty du lịch tại Việt Nam. Mục tiêu cốt lõi của công trình là phân tích các điều kiện gia nhập thị trường, thủ tục cấp phép, quyền và nghĩa vụ pháp lý trong hợp đồng dịch vụ lữ hành, cũng như quy trình chấm dứt hoạt động kinh doanh. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực tiễn trên toàn quốc giai đoạn 2005-2016 và đón đầu các điểm mới của Luật Du lịch năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế cho hơn 1.000 doanh nghiệp lữ hành, hướng tới mục tiêu giảm thiểu 100% các rủi ro pháp lý về tranh chấp hợp đồng và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho hơn 10 triệu lượt khách quốc tế cùng hàng chục triệu lượt khách nội địa mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lý thuyết về địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp. Tác giả kết hợp mô hình phân tích chuỗi giá trị dịch vụ lữ hành, phân định rõ giữa kinh doanh lữ hành trực tiếp và kinh doanh đại lý lữ hành.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý then chốt gồm: quy chế pháp lý của công ty du lịch, điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành, hợp đồng dịch vụ lữ hành và ký quỹ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Ngoài ra, khuôn khổ pháp lý quốc tế được soi chiếu qua Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ số CLX của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Theo cam kết này, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam mà không bị khống chế tỷ lệ vốn góp lên tới 99,99%, song hướng dẫn viên du lịch bắt buộc 100% phải là công dân Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực chứng gồm Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Doanh nghiệp, Nghị định số 92/2007/NĐ-CP, Nghị định số 180/2013/NĐ-CP cùng các báo cáo số liệu chính thức của Tổng cục Du lịch từ năm 2005 đến năm 2016.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 1.600 hồ sơ dữ liệu doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã đăng ký hoạt động trên cả nước và 5 văn bản quy phạm pháp luật nòng cốt điều chỉnh trực tiếp ngành du lịch. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích nhằm tập trung vào các doanh nghiệp chịu sự tác động trực tiếp của quy định ký quỹ và giấy phép kinh doanh.

Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp phương pháp so sánh luật học được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo. Lý do lựa chọn là nhằm đối chiếu những điểm tiến bộ của Luật Du lịch năm 2017 so với Luật Du lịch năm 2005, từ đó đánh giá tính tương thích của hệ thống pháp luật hiện hành với các cam kết hội nhập quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thị trường lữ hành quốc tế tại Việt Nam tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng. Trong tổng số hơn 1.000 doanh nghiệp lữ hành quốc tế đang vận hành, chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp kinh doanh đưa khách quốc tế vào Việt Nam, trong khi có tới 70% doanh nghiệp tập trung khai thác mảng đưa người Việt Nam du lịch nước ngoài.

Thứ hai, Luật Du lịch năm 2005 bộc lộ sự bất bình đẳng lớn về điều kiện kinh doanh. Doanh nghiệp lữ hành quốc tế phải ký quỹ bắt buộc từ 250.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng và sở hữu tối thiểu 3 hướng dẫn viên quốc tế có thẻ hành nghề. Ngược lại, doanh nghiệp lữ hành nội địa hoàn toàn không cần giấy phép chuyên ngành và áp dụng mức ký quỹ 0 đồng, dẫn tới tình trạng buông lỏng quản lý hậu kiểm trong suốt 11 năm.

Thứ ba, tiêu chuẩn về người điều hành doanh nghiệp lữ hành trước đây bộc lộ lỗ hổng lớn khi Luật Du lịch năm 2005 chỉ đòi hỏi kinh nghiệm thâm niên từ 3 đến 4 năm mà không yêu cầu văn bằng chuyên môn lữ hành.

+------------------------------------+--------------------------+--------------------------+
| Tiêu chí so sánh                   | Luật Du lịch năm 2005    | Luật Du lịch năm 2017    |
+------------------------------------+--------------------------+--------------------------+
| Giấy phép lữ hành nội địa          | Không yêu cầu            | Bắt buộc có giấy phép    |
| Ký quỹ lữ hành nội địa             | 0 đồng                   | Bắt buộc ký quỹ ngân hàng|
| Tiêu chuẩn người điều hành nội địa | 3 năm thâm niên          | Tốt nghiệp trung cấp     |
| Tiêu chuẩn người điều hành quốc tế | 4 năm thâm niên          | Tốt nghiệp cao đẳng      |
| Phân bổ thị trường quốc tế         | 30% Inbound / 70% Outbound                          |
+------------------------------------+-----------------------------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý hành chính còn nặng tính phân tán và thiếu hệ thống dữ liệu liên thông giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý chuyên ngành du lịch. Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch sâu sắc giữa phân khúc inbound chiếm 30% và outbound chiếm 70%, phản ánh chính sách quản lý trước đây chưa có công cụ ưu đãi tương xứng cho hoạt động xuất khẩu dịch vụ tại chỗ.

So với các công trình nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát quy chế thương nhân du lịch nói chung, luận văn đã phân định rõ nét địa vị pháp lý độc lập của công ty lữ hành. Việc Luật Du lịch năm 2017 chuẩn hóa điều kiện cấp phép, bổ sung nghĩa vụ ký quỹ cho mảng nội địa và hạ chuẩn trình độ hướng dẫn viên từ cử nhân xuống trung cấp đã kịp thời giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực vào mùa cao điểm, mang lại giá trị thực tiễn cao cho việc thực thi pháp luật từ ngày 01/01/2018.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và ban hành đồng bộ các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Du lịch năm 2017 trước quý 4 năm 2017. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ trì quy định cụ thể mức ký quỹ ngân hàng đối với lữ hành nội địa ở mức tối thiểu 100.000.000 đồng và duy trì mức ký quỹ 250.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với lữ hành quốc tế nhằm bảo đảm nguồn tài chính bồi thường khi phát sinh rủi ro.

Thứ hai, số hóa và chuẩn hóa 100% quy trình cấp, đổi, cấp lại và thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành trên cổng dịch vụ công quốc gia trước năm 2019. Tổng cục Du lịch và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần cắt giảm thời gian thẩm định hồ sơ thực tế từ 10 ngày làm việc xuống tối đa 5 ngày làm việc, đảm bảo thông tin thu hồi giấy phép được công khai trên hệ thống dữ liệu điện tử trong vòng 24 giờ.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn cho 100% cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh và thanh tra chuyên ngành du lịch tại 63 tỉnh, thành phố giai đoạn 2018-2020. Bộ Tư pháp phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức ít nhất 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng xử lý vi phạm hành chính và kiểm soát hợp đồng lữ hành mẫu.

Thứ tư, thiết lập cơ chế thanh tra liên ngành định kỳ 2 lần mỗi năm giữa cơ quan du lịch, công an xuất nhập cảnh và cơ quan thuế. Mục tiêu là kiểm soát chặt chẽ 100% các văn phòng đại diện lữ hành nước ngoài, xử lý nghiêm tình trạng kinh doanh chui và vi phạm quy chuẩn sử dụng hướng dẫn viên du lịch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch bao gồm Tổng cục Du lịch và các Sở Du lịch địa phương. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học sắc bén giúp cán bộ quản lý hoàn thiện văn bản dưới luật, chuẩn hóa quy trình thẩm định cấp phép cho hơn 1.600 doanh nghiệp lữ hành và thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý đồng bộ.

Nhóm 2: Ban giám đốc và luật sư nội bộ tại các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành. Tài liệu hỗ trợ trực tiếp việc rà soát điều kiện pháp lý, quản trị khoản tiền ký quỹ từ 250.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, soạn thảo hợp đồng dịch vụ lữ hành chuẩn và xây dựng phương án giải quyết tranh chấp bảo hiểm cho khách hàng.

Nhóm 3: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế hoặc Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp so sánh luật học và hệ thống hóa lý luận quy chế pháp lý doanh nghiệp.

Nhóm 4: Các nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức xúc tiến du lịch quốc tế. Luận văn giúp nhà đầu tư nắm rõ giới hạn tỷ lệ góp vốn theo cam kết WTO và tuân thủ đúng các quy định về sử dụng hướng dẫn viên là công dân Việt Nam khi thành lập liên doanh lữ hành.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt lớn nhất về điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa giữa Luật Du lịch 2005 và 2017 là gì?

Luật Du lịch năm 2005 không yêu cầu cấp phép và áp dụng mức ký quỹ 0 đồng đối với lữ hành nội địa. Luật Du lịch năm 2017 bắt buộc doanh nghiệp lữ hành nội địa phải đăng ký cấp phép, thực hiện ký quỹ tại ngân hàng và người điều hành phải có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành lữ hành trở lên.

Mức tiền ký quỹ đối với công ty kinh doanh lữ hành quốc tế được quy định cụ thể như thế nào?

Căn cứ Nghị định số 180/2013/NĐ-CP, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành đưa khách quốc tế vào Việt Nam phải ký quỹ 250.000.000 đồng. Đối với doanh nghiệp kinh doanh đưa khách ra nước ngoài hoặc kinh doanh đồng thời cả hai phạm vi inbound và outbound, mức tiền ký quỹ bắt buộc là 500.000.000 đồng gửi tại ngân hàng thương mại.

Doanh nghiệp lữ hành có vốn đầu tư nước ngoài có được phép đưa người Việt Nam đi du lịch nước ngoài không?

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được kinh doanh lữ hành đưa khách ra nước ngoài. Căn cứ Biểu cam kết dịch vụ WTO của Việt Nam, doanh nghiệp có vốn nước ngoài dù chiếm tới 99,99% vốn góp chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách quốc tế vào Việt Nam và khai thác tour nội địa cho chính các đối tượng khách này.

Tiêu chuẩn cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch thay đổi như thế nào nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực?

Luật Du lịch năm 2017 đã điều chỉnh hạ tiêu chuẩn trình độ học vấn từ đại học xuống trung cấp đối với hướng dẫn viên du lịch quốc tế và nội địa. Quy định mới căn cứ vào ngôn ngữ sử dụng thay vì phân biệt cứng nhắc bằng cấp, giúp ngành du lịch kịp thời bổ sung 100% lực lượng lao động trong mùa du lịch cao điểm.

Thủ tục thu hồi giấy phép kinh doanh lữ hành khi doanh nghiệp tự chấm dứt hoạt động diễn ra trong bao lâu?

Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi có quyết định, doanh nghiệp gửi thông báo kèm giấy phép và phương án xử lý hợp đồng còn hiệu lực. Sau 5 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, cơ quan quản lý ban hành quyết định thu hồi và doanh nghiệp có 30 ngày để hoàn tất nghĩa vụ nhằm nhận lại tiền ký quỹ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về quy chế pháp lý của công ty du lịch trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế.
  • Công trình phản ánh thực trạng phát triển ấn tượng với mức tăng trưởng 273,8% của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong giai đoạn 2005-2016.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các bất cập thể chế về ký quỹ, cấp phép và sự chênh lệch cơ cấu giữa 30% lữ hành inbound và 70% lữ hành outbound.
  • Luận văn làm sáng tỏ những điểm đột phá mang tính lịch sử của Luật Du lịch năm 2017 so với Luật Du lịch năm 2005.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về xây dựng văn bản hướng dẫn, số hóa quy trình quản lý và nâng cao hiệu lực thanh tra liên ngành.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam luận giải hoàn chỉnh quy chế pháp lý của công ty du lịch dưới góc độ Luật Kinh tế. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp triển khai các văn bản hướng dẫn trước thời điểm ngày 01/01/2018. Hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu này để xây dựng nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp lữ hành.