CHƯƠNG I. KHÁT QUÁT VỀ QUẤY RỐI TÌNH DỤC TẠI NƠI LÀM VIỆC 1. Những vấn đề lý luận về quấy rối tình dục tại nơi làm việc 1. Khái niệm quấy rối tình dục tại nơi làm việc Theo Từ điển tiếng Việt, quấy rối là “gây rối loạn, không để cho yên”4, quấy rối còn được hiểu với nghĩa như quấy nhiễu, tức là “hoạt động gây hại gần như thường xuyên, không để cho sống yên ổn”5.
Quấy rối là hành vi nhằm vào một người hoặc một nhóm người dựa vào đặc tính của người bị quấy rối như: chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính (bao gồm xu hướng tình dục, bản dạng giới và tình trạng mang thai), nguồn gốc quốc gia, tuổi tác, khuyết tật hoặc các đặc tính di truyền6. Quấy rối gây xúc phạm, làm nhục, đe dọa, hoặc tạo ra môi trường thù địch đối với người bị quấy rối, nó có thể là một hành vi liên tục hoặc đơn lẻ, ngẫu nhiên hoặc có chủ đích, cố ý hoặc vô tình7. Còn tình dục là “quan hệ tính giao”8. Quan hệ tính giao là bản năng và nhu cầu của con người.
Con người là động vật bật cao, có tư duy, có nhận thức nên quan hệ tính giao được kiểm soát và hành vi này phản ánh được năng lực về tâm lý, sinh lý của con người. Theo Từ điển Di sản Hoa Kỳ, QRTD được định nghĩa là “hành vi không phù hợp có tính chất tình dục, chẳng hạn như những gạ gẫm tình dục lặp đi lặp lại hoặc những nhận xét xúc phạm, thường xảy ra ở nơi làm việc, trường học hoặc môi trường tổ chức khác, đặc biệt là của người có thẩm quyền đối với cấp dưới hoặc học sinh”9. Như vậy, QRTD toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài một cách cố ý hoặc vô tình của một người đối với một người khác trên cơ sở tính chất tình dục mà người nhận không hoan nghênh hoặc mong muốn hoặc chấp nhận nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục hoặc gây ra môi trường thù địch hoặc đe dọa 4 Hoàng Phê (chủ biên) (2019), Từ điển tiếng Việt, NXB. Hồng Đức, tr.
5 Vĩnh Tịnh (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Lao động, tr. 6 EEOC, “Harassment”, https://www.gov/harassment, truy cập ngày 11/9/2022. 7 “Definitions of bullying, harassment, discrimination and violence”, https://bullyingnoway.au/resource/fact-sheets/familyfactsheets/bnw-factsheet-1-bullying-definitions.pdf, truy cập ngày 28/7/2022.
8 Hoàng Phê (chủ biên), tlđd (4), tr. 9 HarperCollins Publisher, “The American Heritage Dictionary of the English Language”, https://ahdictionary.com/word/search.html?q=sexual+harassment, truy cập ngày 01/8/2022. 10 hoặc làm nhục người bị QRTD. QRTD là hành vi đi ngược lại đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và gây ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần của người bị QRTD.
Nơi là “phần không gian mà người hay vật nào đó chiếm, hoặc ở đấy sự việc gì đó xảy ra”10, làm việc là “làm những công việc thuộc một nghề nghiệp nào đó; tiến hành giải quyết công việc cụ thể với người nào đó”11. Nơi làm việc là địa điểm, không gian mà một người hoặc một nhóm người tiến hành thực hiện, giải quyết công việc. Công việc là “việc cụ thể phải bỏ công sức ra để làm”12. Do đó, nơi làm việc được hiểu theo nghĩa rộng, không đơn thuần là một địa điểm làm việc cố định và bị giới hạn bởi một không gian nào đó.
Nơi làm việc có thể là bất cứ nơi nào mà trên thực tế nơi đó có một người hoặc một nhóm người tiến hành thực hiện, giải quyết bất cứ công việc nào trong cuộc sống theo nhu cầu của chính bản thân họ hoặc theo yêu cầu, phân công của một chủ thể nào đó. Trên thế giới, hành vi QRTD tại nơi làm việc đã xuất hiện từ rất lâu, có nhiều quan điểm về thời điểm hành vi này xuất hiện. Theo các nhà nghiên cứu của Trung tâm Đa dạng và Bình đẳng Việc Làm của Trường Kinh doanh Manchester thuộc Đại học Manchester (Vương quốc Anh), QRTD này có thể đã bắt nguồn từ giữa những năm 1970 ở Bắc Mỹ13. Theo Farley (1978), thuật ngữ này được phát hiện trong quá trình thảo luận của một lớp học về phụ nữ và việc làm tại Đại học Cornell vào năm 197414.
Trong khoa học pháp lý, QRTD tại nơi làm việc được xem là hành vi bất hợp pháp, việc công nhận QRTD tại nơi làm việc là hành vi bất hợp pháp bắt nguồn từ Hoa Kỳ sau tác phẩm có ảnh hưởng của Catharine MacKinnon, bà cho rằng QRTD tại nơi làm việc là hình thức phân biệt giới tính theo Tiêu đề VII của Đạo luật Quyền Công dân năm 1964 của Hoa Kỳ. Năm 1980, EEOC đã ban hành hướng dẫn xác định QRTD tại nơi làm việc, tuyên bố QRTD tại nơi làm việc là vi phạm Tiêu đề VII của 10 Hoàng Phê (chủ biên), tlđd (4), tr. 11 Hoàng Phê (chủ biên), tlđd (4), tr. 12 Hoàng Phê (chủ biên), tlđd (4), tr.
Hoel (2010), “Review sexual harassment in the workplace – an intervention model”, Personnel Review, Vol. 14 Kaushik Basu (2003), “The economics and law of sexual harassment in the workplace”, Journal of Economic Perspectives, Vol. 11 Đạo luật Quyền Công dân năm 196415. Trên cơ sở quan điểm của EEOC, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã nhanh chóng công nhận QRTD tại nơi làm việc là một hành vi bất hợp pháp và đưa ra các định nghĩa đối với hành vi này.
Tùy vào hệ thống pháp luật, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia, các khu vực hoặc mục đích hoạt động của các tổ chức quốc tế, họ sẽ có những định nghĩa khác nhau về QRTD tại nơi làm việc. Tác giả xin đưa ra một số định nghĩa về QRTD tại nơi làm việc được thừa nhận rộng rãi như: Theo ILO, QRTD là một hành vi dựa trên tình dục và không được hoan nghênh, gây khó chịu cho người nhận, để QRTD tồn tại thì phải có hai điều kiện trên16. QRTD được ILO ghi nhận lần đầu tiên tại Công ước số 169 về các dân tộc và bộ lạc bản địa ở các quốc gia độc lập năm 1989 (Indigenous and Tribal Peoples Convention, 1989, No.169), tuy nhiên, tại Công ước này, QRTD không được định nghĩa và ILO chỉ quy định về cơ hội bình đẳng, được đối xử bình đẳng trong lao động và được bảo vệ khỏi sự QRTD tại khoản 3 Điều 20. Đến thời điểm gần đây, QRTD được ILO điều chỉnh trong khái niệm “bạo lực và quấy rối” và “bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới” tại Công ước số 190 về Chấm dứt Bạo lực và Quấy rối năm 2019 (Violence and Harassment Convention, 2019, No.
Theo Công ước này, thuật ngữ “bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới” trong công việc được hiểu là các hành vi và thực hành không được chấp nhận hay những mối đe dọa liên quan đến các hành vi và thực hành đó trực tiếp nhằm vào con người do tính dục hay giới tính của họ, hay tác động tới con người thuộc tính dục và giới tính khác nhau ở mức độ khác nhau, dù xảy ra một lần hay nhiều lần, nhằm mục đích gây ra hoặc có khả năng gây ra những tác hại về thể chất, tâm lý, tình dục, kinh tế. Theo Nghị viện Châu Âu và Hội đồng Liên minh Châu Âu, tại Chỉ thị số 2006/54/EC ngày 05/8/2006, QRTD là hành vi không mong muốn bằng lời nói, phi lời nói hoặc thể chất có tính chất tình dục, với mục đích hoặc gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của con người, đặc biệt là khi tạo ra một hành vi đe dọa, thù địch, môi trường xuống cấp, sỉ nhục hoặc xúc phạm. Tại Chỉ thị này cũng nêu, quấy rối và QRTD trái với nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa nam và nữ và cấu thành sự phân biệt đối xử vì 15 Joni Hersch, “Sexual harassment in workplace”, https://law.edu/phd/faculty/joni- hersch/2015_Hersch_Sexual_Harassment_in_the_Workplace_IZAWOL_Oct15.pdf, truy cập ngày 01/7/2022. 16 ILO, “Sexual Harassment at work”, https://www.org/wcmsp5/groups/public/---ed_norm/--- declaration/documents/publication/wcms_decl_fs_96_en.pdf, truy cập ngày 30/7/2022.
12 lý do giới tính theo các mục đích tại Chỉ thị này. Những hình thức phân biệt đối xử này không chỉ xảy ra ở nơi làm việc mà còn xảy ra trong bối cảnh tiếp cận việc làm, đào tạo nghề và thăng tiến trong công việc. Do đó, chúng nên bị cấm và phải chịu các hình phạt hiệu quả, tương xứng và răn đe17. Theo Liên Hợp Quốc, tại Điều 11 Khuyến nghị chung số 19 năm 1992 của Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW), QRTD bao gồm các hành vi về tình dục không được hoan nghênh như đụng chạm thân thể, theo đuổi tán tỉnh, những nhận xét mang màu sắc tình dục, thể hiện các văn hóa phẩm khiêu dâm và đòi hỏi tình dục bất kể bằng lời nói hay hành động và hành vi này có thể làm nhục hoặc ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe, mang tính phân biệt đối xử khi có cơ sở tin rằng việc từ chối sẽ gây ra các bất lợi liên quan đến công việc của người bị quấy rối18.
Mặc dù các tổ chức quốc tế có tính chất và mục tiêu hoạt động khác nhau, nhưng nhìn chung các hành động của họ đều hướng tới con người, vì sự bảo vệ và phát triển của con người, do đó, các định nghĩa về QRTD tại nơi làm việc của các tổ chức quốc tế có nét tương đồng. Đó là những hành vi có tính chất tình dục hướng tới một người mà người đó không hoan nghênh (unwelcome), không mong muốn (unwish), không chấp nhận (unaccept) gây xúc phạm, làm nhục, đe dọa hoặc tạo ra môi trường thù địch. Về phía pháp luật các quốc gia, theo thống kê, trên thế giới, đã có hơn 75 quốc gia ban hành các quy định pháp luật về việc cấm QRTD tại nơi làm việc19. Khi định nghĩa hành vi QRTD tại nơi làm việc, đa số các quốc gia chỉ đưa ra các dấu hiệu để nhận biết hành vi này trong thực tiễn, do đó, các định nghĩa QRTD tại nơi làm việc ở các quốc gia không có nhiều điểm khác biệt và tương thích với quan điểm của các tổ chức quốc tế.
17 “Directive 2006/54/EC of the European Parliament and of the Council of 5 July 2006 on the implementation of the principle of equal opportunities and equal treatment of men and women in matters of employment and occupation (recast)”, https://eur-lex.eu/legal- content/EN/TXT/PDF/?uri=CELEX:32006L0054&from=EN, truy cập ngày 30/7/2022. 18 “General Recommendation No.org/womenwatch/daw/cedaw/recommendations/recomm.htm, truy cập ngày 25/7/2022. 19 Joni Hersch, tlđd (15). 13 Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận QRTD tại nơi làm việc là hành vi bất hợp pháp trên cơ sở phân biệt đối xử giới tính.
Năm 1980, EEOC đã ban hành hướng dẫn tuyên bố QRTD là vi phạm Mục 703 của Tiêu đề VII Đạo luật Quyền Công dân năm 1964, thiết lập các tiêu chí để xác định khi nào hành vi không được hoan nghênh có tính chất tình dục cấu thành QRTD20.