Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/01/1973, đế quốc Mỹ và chính quyền, Quân đội Sài Gòn (QĐSG) không thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản đã cam kết mà tiếp tục thực hiện kế hoạch bình định lấn chiếm (BĐLC) được chuẩn bị từ trước. Đối phương đã mở các cuộc hành quân mang danh nghĩa "tràn ngập lãnh thổ" nhằm xóa bỏ thế trận "da báo", cô lập lực lượng cách mạng và tiến tới kiểm soát toàn bộ miền Nam. Tại địa bàn chiến lược Khu V, từ ngày 28/01/1973, QĐSG ồ ạt mở nhiều cuộc càn quét quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn kết hợp giữa lấn chiếm phía trước với củng cố phía sau, sử dụng mật độ phi pháo ác liệt cùng các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hóa để kìm kẹp nhân dân.

Thực tiễn đấu tranh trong giai đoạn đầu năm 1973 gặp nhiều khó khăn, xuất hiện tư tưởng "hữu" khuynh, hòa bình chủ nghĩa ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng, khiến thế tiến công của ta có lúc bị chững lại. Sau khi tiếp thu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7/1973), Khu ủy Khu V đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo: kiên quyết đánh bại BĐLC, giữ đất, giành dân và phát triển thực lực cách mạng. Đến cuối năm 1974 - đầu năm 1975, kế hoạch BĐLC của địch cơ bản bị đập tan, tạo thời cơ trực tiếp giải phóng toàn Khu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Dù tiến trình lịch sử này diễn ra hết sức quyết liệt, có cả chiến công lẫn tổn thất, nhưng trước đây chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp, có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về quá trình quân và dân Khu V chống phá BĐLC trong giai đoạn 1973 - 1975. Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Bình Tuyển được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống lịch sử này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ quá trình quân và dân Khu V chống phá BĐLC của Mỹ và chính quyền, QĐSG giai đoạn 1973 - 1975; trên cơ sở đó nhận xét ưu điểm, khuyết điểm và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo, vận dụng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định thành 4 nhiệm vụ cụ thể):
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài luận án.
    2. Phân tích các yếu tố tự nhiên, xã hội, truyền thống và hình thái chiến trường tác động đến quá trình chống phá BĐLC tại Khu V.
    3. Trình bày và phục dựng có hệ thống quá trình quân và dân Khu V chống phá BĐLC giai đoạn 1973 - 1975 qua hai bước phát triển cụ thể.
    4. Nhận xét ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử của quân và dân Khu V, xác định phương hướng vận dụng trong bối cảnh hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của quân và dân Khu V chống phá BĐLC của Mỹ và chính quyền, QĐSG giai đoạn 1973 - 1975.
  • Phạm vi nội dung: Phản ánh toàn diện các hoạt động chống BĐLC trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; trong đó hoạt động đấu tranh quân sự giữ vai trò nòng cốt, chủ đạo.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát từ ngày 28/01/1973 (ngày Hiệp định Paris có hiệu lực) đến ngày 03/4/1975 (thời điểm hoàn thành giải phóng các tỉnh địa bàn Khu V). Luận án có mở rộng đề cập một số sự kiện trước tháng 1/1973 và sau ngày 03/4/1975 nhằm bảo đảm tính liên tục của lịch sử.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ chiến trường Khu V gồm 9 tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành khảo cứu, phân loại và đánh giá một khối lượng lớn công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và quốc tế liên quan đến chủ đề BĐLC:

Các nhóm công trình nghiên cứu trước đây

  • Các công trình của tác giả nước ngoài:
    • Robert Thompson (1966) với Defeating communist insurgency (Đánh bại sự nổi dậy của cộng sản) phân tích kinh nghiệm chống nổi dậy ở Malaysia và miền Nam Việt Nam (1961 - 1965), nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát làng xã và triệt phá cơ sở chính trị cách mạng.
    • Niel Sheehan (1988) trong A Bright Shinning Lie (Lời nói dối hào nhoáng) phân tích quá trình hoạch định và nguyên nhân thất bại của chính sách bình định thông qua nhân vật John Paul Vann và sự bất đồng trong nội bộ giới lãnh đạo Mỹ.
    • Michael Maclear (1990) với Việt Nam - Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày khai thác quan điểm của Robert Komer (chương trình bình định nhằm chiếm lấy "trái tim khối óc") và William Colby (kế hoạch "Phượng Hoàng" kiểm soát nông thôn).
    • Zalin Grant (1993) trong Giáp mặt với Phượng Hoàng, CIA và sự thất bại chính trị của Hoa Kỳ ở Việt Nam làm rõ cơ chế tổ chức của mạng lưới tình báo CIA trong việc khủng bố, bắt bớ cán bộ cơ sở.
    • Abern, Jr (2001) với CIA and rural pacification in south Vietnam phân tích sự phân công chiến lược: quân đội Mỹ đảm nhiệm "tìm diệt", QĐSG đảm nhiệm "bình định".
    • Jeffrey Kimball (2007) trong Hồ sơ chiến tranh Việt Nam - Tiết lộ lịch sử bí mật của chiến lược thời Nixon chỉ ra việc Mỹ tăng cường viện trợ vũ khí cho QĐSG trước khi rút quân để tiếp tục duy trì lấn chiếm.
  • Các công trình nghiên cứu trong nước về toàn miền Nam:
    • Đặng Phong (1991) với cuốn 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam làm rõ thủ đoạn phong tỏa kinh tế, cướp bóc lương thực của chính quyền Sài Gòn sau Hiệp định Paris.
    • Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1991, 2013, 2018) với các công trình: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tập VIII, Toàn thắng, Lịch sử phong tràu đấu tranh chống phá bình định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tập IV (1969 - 1975).
    • Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995, 2000) với các bộ tổng kết: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học, Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945 - 1975), thắng lợi và bài học.
    • Bộ Quốc phòng (1996) với Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975).
  • Các công trình nghiên cứu về địa phương và trực tiếp về Khu V:
    • Nghiên cứu so sánh ở Nam Bộ: Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945 - 1975), tập II (Quân khu 7, 1993); Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến, tập 3 (2010); luận án của Hà Minh Hồng (1997); các bài nghiên cứu về mặt trận Chương Thiện năm 1973 của Nguyễn Huy Thục (1991) và Nguyễn Đệ (1994).
    • Nghiên cứu tại Khu V: Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, tập III (1969 - 1975) (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, 1989); lịch sử các đơn vị chủ lực như Sư đoàn 304 (1990), Sư đoàn 3 Sao Vàng (2010), Sư đoàn 10 (2012), Sư đoàn Bộ binh 2 (2015), Trung đoàn 24 và Trung đoàn 28 (Quân đoàn 3); công trình tổng kết của Mặt trận Tây Nguyên - Quân đoàn 3 (2005); các bộ lịch sử Đảng bộ và lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân các tỉnh Gia Lai, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hòa, Kon Tum; luận án của Đinh Văn Trọng (2017) và bài viết của Nguyễn Văn Lượng (2018).
Nhóm công trình Đại diện tiêu biểu Giá trị kế thừa Hạn chế / Khoảng trống
Tác giả quốc tế R. Thompson, N. Sheehan, M. Maclear, Z. Grant, Abern Jr, J. Kimball Cung cấp góc nhìn từ đối phương, tư liệu về cơ chế viện trợ, kế hoạch Phượng Hoàng, âm mưu của Mỹ Có khuynh hướng bao biện cho cuộc chiến tranh xâm lược, nhìn nhận phiến diện về phong trào cách mạng
Tổng kết toàn miền Ban Chỉ đạo TKTW, Viện LSQS Việt Nam, Bộ Quốc phòng Cung cấp khung phương pháp, số liệu chính thống và định hướng phân kỳ chiến lược Dung lượng dành cho Khu V ít, nội dung mang tính khái quát, chưa đi sâu vào từng địa bàn
Lịch sử đơn vị, địa phương BTL Quân khu 5, Mặt trận Tây Nguyên, Sư đoàn 2, 3, 10, 304, các Tỉnh ủy Cung cấp diễn biến thực tế, tư liệu chi tiết về các trận đánh và phong trào ba mũi giáp công Có xu hướng chỉ nêu thắng lợi, ít đề cập khuyết điểm, thiếu tính hệ thống toàn Khu

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình xuất bản trước đây hoặc chỉ tiếp cận ở quy mô toàn miền Nam nên dung lượng viết về Khu V rất khái lược, hoặc chỉ bó hẹp trong phạm vi một tỉnh, một sư đoàn đơn lẻ. Một số công trình có xu hướng né tránh những khó khăn, tổn thất hoặc phê phán hạn chế của Khu V trong nửa đầu năm 1973 mà chưa phân tích đầy đủ bối cảnh lịch sử và nội lực lãnh đạo. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng một bức tranh lịch sử hoàn chỉnh, hệ thống và khách quan về cuộc đấu tranh chống BĐLC của quân và dân Khu V trên cả 9 tỉnh trong suốt giai đoạn 1973 - 1975.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

Luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng và bạo lực cách mạng, kết hợp với quan điểm, đường lối và nghệ thuật quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khung phân tích tập trung vào các phạm trù:

  • Mối quan hệ biện chứng giữa bạo lực vũ trang và bạo lực chính trị quần chúng.
  • Quy luật phát triển của chiến tranh nhân dân địa phương kết hợp với tác chiến hiệp đồng của các binh đoàn chủ lực.
  • Phương châm kết hợp chặt chẽ "hai chân" (quân sự, chính trị), "ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận) trên "ba vùng chiến lược" (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp chủ yếu: Sử dụng kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện các sự kiện theo đúng tiến trình thời gian thực tế, đồng thời rút ra bản chất, quy luật vận động và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu sử liệu giữa các nguồn tài liệu của ta và tài liệu thu được từ phía đối phương.

Nguồn tư liệu

  1. Văn kiện gốc: Các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các văn bản chỉ đạo của Khu ủy Khu V và Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên giai đoạn 1973 - 1975.
  2. Tài liệu từ phía đối phương: Các báo cáo, tài liệu nghiên cứu, hồ sơ lưu trữ về kế hoạch bình định, bố trí binh lực của Bộ Tổng Tham mưu QĐSG và Quân đoàn 2 - Quân khu 2 QĐSG.
  3. Tài liệu tổng kết thực tiễn: Các công trình lịch sử đảng bộ, lịch sử lực lượng vũ trang địa phương 9 tỉnh thuộc Khu V; lịch sử các quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn chủ lực; hồi ký và lời chứng của các tướng lĩnh, nhân chứng lịch sử trực tiếp tham gia chiến trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này phân tích toàn diện lịch sử nghiên cứu vấn đề BĐLC và chống BĐLC ở cả trong và ngoài nước. Tác giả chỉ rõ những thành tựu tư liệu đã đạt được, phân loại các xu hướng tiếp cận của các nhà nghiên cứu quân sự, sử học, đồng thời xác lập cơ sở khoa học để khẳng định đề tài là công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp. Chương 1 cũng xác định rõ 3 nội dung trọng tâm mà luận án đi sâu giải quyết: phân định yếu tố tác động và địa bàn; tái hiện tiến trình lịch sử qua 2 giai đoạn; đúc kết bài học kinh nghiệm lịch sử.

Chương 2: Quá trình quân và dân Khu V chống phá bình định lấn chiếm (28/01 - 6/1973)

Chương 2 làm rõ các yếu tố tác động và diễn biến thực tế trong 6 tháng đầu sau Hiệp định Paris:

  • Đặc điểm chiến trường Khu V: Địa bàn gồm 9 tỉnh với tổng diện tích tự nhiên khoảng 82.900 km², được phân định thành 2 phân vùng chiến lược có quan hệ mật thiết:
    • Chiến trường Mặt trận Tây Nguyên (B3): Gồm 3 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk (diện tích 44.900 km²), địa hình rừng núi hiểm trở nối liền Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, là bàn đạp chiến lược uy hiếp đối phương từ phía Tây.
    • Chiến trường Đồng bằng ven biển (B1): Gồm 6 tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (diện tích 38.000 km², bờ biển dài 922 km), nơi tập trung đông dân cư, các căn cứ quân sự đầu não và tuyến giao thông huyết mạch của chính quyền Sài Gòn.
  • Kinh nghiệm lịch sử chống bình định trước năm 1973: Luận án điểm lại quá trình kiên cường bám trụ qua các thời kỳ: chống phong trào "tố Cộng, diệt Cộng" (1954 - 1960), phá ấp chiến lược trong "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965) với kết quả phá 1.248 ấp ở đồng bằng và 292 ấp ở rừng núi đến cuối năm 1964; thực hiện "ba bám" đánh bại hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" trong "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968); liên tục bẻ gãy các chương trình "Bình định cấp tốc", "Bình định phát triển" trong "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969 - 1972).
  • Hình thái bố trí lực lượng khi ký kết Hiệp định Paris:
Địa bàn Lực lượng và bố trí của Quân đội Sài Gòn Lực lượng và bố trí của Lực lượng cách mạng
Kon Tum Sư đoàn 23 (Trung đoàn 44, 53), Sư đoàn 22 (Trung đoàn 42, 47), Lữ dù 2, 09 tiểu đoàn biệt động quân, 02 trung đoàn thiết giáp, 03 tiểu đoàn pháo binh lập tuyến phòng thủ phía Bắc thị xã. Sư đoàn 10 (các Trung đoàn 24, 28, 66, 95), Tiểu đoàn 20 đặc công, 02 tiểu đoàn địa phương (406, 304) phòng ngự vòng cung 20 km từ Đắk Tô, Tân Cảnh, Plei Kần đến Suối Đắc Le, cắt Đường 14.
Gia Lai Sở Chỉ huy Quân đoàn 2, Sư đoàn 22 (Trung đoàn 40), 05 liên đoàn biệt động quân (21, 22, 23, 24, 25), 03 tiểu đoàn thiết giáp, Sư đoàn 6 không quân chiếm giữ Đường 14, Đường 19, Chư Nghé. Sư đoàn 320A (các Trung đoàn 25, 48, 64), Trung đoàn pháo binh 675, Tiểu đoàn 2 Đoàn 470, các tiểu đoàn địa phương (2, 67, 408) phòng ngự từ Làng Dịt đến Đức Cơ, cắt đèo Măng Yang.
Đắk Lắk Sở Chỉ huy Sư đoàn 23, Trung đoàn 45, 01 liên đoàn biệt động quân, 01 trung đoàn thiết giáp đóng tại Buôn Ma Thuột, Phú Nhơn. Bộ đội chủ lực chốt giữ Đắk Mil, Buôn Hồ, M’Drak; bộ đội địa phương tỉnh có 693 người, dân quân du kích trên 1.000 người.
Bình Định Sư đoàn 22 (Trung đoàn 41, 42), Thiết đoàn 14, 01 liên đoàn biệt động, 04 tiểu đoàn pháo binh rải quân giữ Đường 1, Đường 19, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát. Sư đoàn 3 Sao Vàng làm nòng cốt phối hợp LLVT địa phương giữ bàn đạp Hoài Ân, chặn đánh các đợt lấn chiếm.
  • Thực tiễn đấu tranh giai đoạn 28/01 - 6/1973: Lợi dụng việc ta có biểu hiện lúng túng, xuất hiện tư tưởng hòa bình chủ nghĩa, QĐSG đã huy động lực lượng lấn chiếm nhiều vùng giải phóng. Quân và dân Khu V đã từng bước chấn chỉnh nhận thức, kết hợp đấu tranh pháp lý, chính trị với quân sự cục bộ để chặn đứng các mũi tiến công của đối phương.

Chương 3: Quân và dân Khu V đẩy mạnh chống phá bình định lấn chiếm (7/1973 - 4/1975)

Chương này phản ánh bước chuyển chiến lược sau khi quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng:

  • Khu ủy Khu V và Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên kiên quyết chuyển hướng từ phòng ngự sang chủ động tiến công và phản công.
  • Tại Tây Nguyên (B3), chủ lực ta liên tiếp đánh bại các cuộc hành quân giải tỏa của địch tại Đắk Pét, Măng Đen, Măng Buk, giải phóng hoàn toàn vùng nông thôn phía Bắc Kon Tum, dồn địch về co cụm trong các thị xã.
  • Tại đồng bằng ven biển (B1), Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 Sao Vàng phối hợp cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích mở các đợt hoạt động tại Nông Sơn - Thượng Đức, Ba Tơ, Minh Long, Hoài Ân, tiêu diệt hàng loạt đồn bốt, phá vỡ thế kìm kẹp, hỗ trợ hàng vạn quần chúng phá khu dồn bung về làng cũ làm ăn.
  • Cuối năm 1974 - đầu năm 1975, thế trận BĐLC của địch bị phá vỡ từng mảng lớn, tạo điều kiện thuận lợi trực tiếp để quân và dân toàn Khu bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn 9 tỉnh Khu V.

Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm lịch sử

Luận án tiến hành tổng kết, đánh giá các mặt thành công và hạn chế, đồng thời rút ra 4 nhóm kinh nghiệm cơ bản:

  1. Kinh nghiệm nắm vững và kiên định tư tưởng cách mạng bạo lực: Nhanh chóng khắc phục tư tưởng hữu khuynh, nhận định chính xác bản chất ngoan cố của đối phương để xác lập quyết tâm tiến công.
  2. Kinh nghiệm phối hợp hiệp đồng tác chiến giữa hai chiến trường B1 và B3: Kết hợp đòn tiêu diệt lớn của chủ lực cơ động trên chiến trường rừng núi Tây Nguyên với phong trào phá ấp, trừ gian, giành quyền làm chủ của quần chúng ở đồng bằng ven biển.
  3. Kinh nghiệm thực hiện phương châm "ba bám" và "hai chân, ba mũi": Giữ vững thế trận lòng dân, tổ chức du kích mật, kiên quyết bám đất, bám dân để đánh địch tại chỗ.
  4. Kinh nghiệm xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân: Kiện toàn các sư đoàn chủ lực mạnh đồng thời củng cố bộ đội địa phương và dân quân tự vệ đáp ứng yêu cầu bóc gỡ đồn bốt, bảo vệ chính quyền cơ sở.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về toàn bộ quá trình quân và dân Khu V chống phá BĐLC trong giai đoạn lịch sử 1973 - 1975.
  • Khái quát và làm sâu sắc thêm lý luận về chiến tranh nhân dân địa phương, nghệ thuật kết hợp giữa tác chiến của bộ đội chủ lực với phong trào nổi dậy của quần chúng trong điều kiện thi hành một hiệp định ngừng bắn có sự vi phạm nghiêm trọng từ phía đối phương.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phục dựng chân thực, khách quan diễn biến cuộc đấu tranh tại Khu V, chỉ rõ những ưu điểm cũng như những khuyết điểm, lúng túng trong lãnh đạo, chỉ đạo ở giai đoạn đầu năm 1973.
  • Hệ thống hóa các sự kiện lịch sử, số liệu thực tế về lực lượng, vũ khí, địa bàn phân chia giữa ta và đối phương trên chiến trường Khu V giai đoạn 1973 - 1975.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn đối với công tác xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tài liệu lưu trữ từ phía đối phương còn phân tán và chịu ảnh hưởng của quan điểm tuyên truyền một chiều, việc đối chiếu một số số liệu chi tiết về tổn thất nhân lực và trang bị của các đơn vị bảo an, dân vệ cấp cơ sở chưa thật sự đồng đều giữa các huyện, xã. Luận án chủ yếu tập trung vào mặt trận quân sự, dung lượng dành cho đấu tranh kinh tế và văn hóa ở một số vùng giáp ranh chưa thật sâu sắc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh chi tiết nghệ thuật chống BĐLC giữa chiến trường Khu V với chiến trường Trị - Thiên (Quân khu 4) và miền Đông Nam Bộ (Quân khu 7); đào sâu khai thác tài liệu lưu trữ địa phương về công tác xây dựng vùng giải phóng và đấu tranh kinh tế tự túc trong những năm 1973 - 1975.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên: Cung cấp nguồn sử liệu phong phú, chính xác và phương pháp luận chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quân sự, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Đối với giảng viên và cơ quan nghiên cứu: Là giáo trình tham khảo chuyên sâu cho các chuyên đề về Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và Nghệ thuật quân sự Việt Nam.
  • Đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân sự: Cung cấp luận cứ thực tiễn để nghiên cứu thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc tại địa bàn chiến lược miền Trung và Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi chiến trường Khu V giai đoạn 1973 - 1975 gồm những tỉnh nào và có cơ cấu tổ chức ra sao?

Chiến trường Khu V giai đoạn này gồm 9 tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk với tổng diện tích 82.900 km². Địa bàn được chia thành 2 phân vùng: Mặt trận Tây Nguyên (B3 - gồm 3 tỉnh Tây Nguyên) và Đồng bằng ven biển (B1 - gồm 6 tỉnh duyên hải). Về mặt chỉ đạo, từ ngày 28/8/1973, Thường trực Quân ủy Trung ương quy định Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên trực thuộc trực tiếp và toàn diện Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5.

2. Nguyên nhân nào khiến thế tiến công của quân và dân Khu V bị chững lại trong nửa đầu năm 1973?

Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nảy sinh tư tưởng "hữu" khuynh, hòa bình chủ nghĩa, phân vân về việc đánh địch thế nào để không vi phạm Hiệp định. Việc lãnh đạo, chỉ huy chống lấn chiếm tại một số địa phương còn lúng túng, cộng với thủ đoạn "hòa hoãn nơi này để tập trung lấn chiếm nơi khác" của QĐSG đã làm cho cách mạng bị mất đất, mất dân ở một số khu vực trọng điểm.

3. Nghị quyết nào của Trung ương Đảng đã tạo ra bước ngoặt quyết định cho phong trào chống phá BĐLC tại Khu V?

Đó là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 7/1973). Nghị quyết khẳng định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là bạo lực cách mạng, chỉ đạo toàn quân, toàn dân kiên quyết đánh trả các hành động phá hoại Hiệp định của đối phương, giúp Khu ủy Khu V kịp thời chuyển hướng từ thế phòng giữ sang chủ động phản công và tiến công.

4. Mối quan hệ hiệp đồng giữa chiến trường Tây Nguyên (B3) và Đồng bằng ven biển (B1) thể hiện như thế nào?

Đây là hai chiến trường có tính độc lập tương đối nhưng gắn kết chặt chẽ trong thế trận chung. Chiến trường B3 sử