Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Giáo dục Chính trị của tác giả Phan Thế Tài (người hướng dẫn: ThS. Phí Văn Thức, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, năm 2005) tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với mặt trận đô thị trong giai đoạn đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965).
Về bối cảnh thực tiễn, sau thắng lợi của phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960), cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, dẫn đến sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960). Để đối phó, đế quốc Mỹ đã lựa chọn miền Nam Việt Nam làm nơi thí nghiệm chiến lược toàn cầu mới thông qua "Chiến tranh đặc biệt", triển khai liên tiếp hai kế hoạch quân sự - chính trị quy mô lớn: kế hoạch Xtalây - Tâylơ (1961 - 1963) và kế hoạch Giônxơn - Mác Namara (1963 - 1965). Trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng, phương pháp kết hợp ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị) cùng phương châm đánh địch bằng "hai chân" (chính trị, quân sự) và "ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh vận) đóng vai trò nòng cốt. Khóa luận tập trung làm rõ cách thức Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh tại các trung tâm đô thị - nơi tập trung cơ quan đầu não của đối phương - nhằm đánh bại chiến lược quân sự của Mỹ và tay sai.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang tại các đô thị lớn ở miền Nam.
- Đánh giá khách quan quá trình đóng góp, thực tiễn đấu tranh của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân tại ba đô thị tiêu biểu: Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng.
- Tổng kết, rút ra những đặc điểm nổi bật và bài học kinh nghiệm lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng trong phong trào đô thị thời kỳ chống "Chiến tranh đặc biệt".
Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng:
- Trình bày hệ thống tiến trình lịch sử phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang tại các đô thị lớn giai đoạn 1961 - 1965.
- Tái hiện những nét điển hình của phong trào quần chúng (công nhân, học sinh, sinh viên, đồng bào Phật giáo) và các hoạt động tác chiến của lực lượng biệt động, tự vệ nội - ngoại thành tại Sài Gòn - Gia Định, Huế và Đà Nẵng.
Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Cục miền Nam và Đảng bộ các đô thị đối với hai lực lượng chính trị và vũ trang; chính sách thống trị của chính quyền tay sai và các phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tập trung vào ba đô thị lớn ở miền Nam là Sài Gòn - Gia Định, Huế và Đà Nẵng cùng vùng ven đô thị.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1961 đến năm 1965, mốc thời gian tương ứng với quá trình Mỹ triển khai và thất bại hoàn toàn trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt".
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng về chiến tranh nhân dân, khởi nghĩa vũ trang và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cụ thể, tác giả vận dụng lý luận về sự kết hợp giữa ba vùng chiến lược, sự gắn kết biện chứng giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, trong đó đô thị giữ vai trò là hậu phương và sào huyệt của địch nhưng đồng thời là nơi có lực lượng chính trị quần chúng đông đảo.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, liên tục tiến trình phát triển của phong trào đấu tranh đô thị theo trình tự thời gian từ năm 1961 đến năm 1965 gắn với từng giai đoạn chỉ đạo của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam.
- Phương pháp lôgíc: Phân tích bản chất, quy luật vận động nội tại của các phong trào đấu tranh dân sinh, dân chủ sang đấu tranh chính trị trực diện và đấu tranh vũ trang; đúc kết thành các luận điểm, bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Khai thác tư liệu từ các văn kiện, hồi ký, tài liệu lịch sử Đảng bộ địa phương để so sánh, đối chiếu và khái quát hóa thực tiễn phong trào tại từng địa bàn.
Nguồn tư liệu nghiên cứu:
- Hệ thống Văn kiện Đảng toàn tập, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam.
- Các tác phẩm, bài phát biểu, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng (Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt...).
- Tư liệu lịch sử địa phương: Lịch sử Đảng bộ TP. Hồ Chí Minh (tập 2, 1954 - 1975), Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế (tập 3, 1954 - 1975), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (tập 3, 1954 - 1975).
- Các công trình chuyên khảo đã công bố: Miền Nam giữ vững thành đồng (tập 2 và tập 3) của Trần Văn Giàu, Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975 của Lê Cung, cùng các giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh tại một số đô thị lớn từ 1961 đến 1963
Chương 1 làm rõ vị trí chiến lược của đô thị miền Nam và quá trình Đảng chỉ đạo đánh bại kế hoạch Xtalây - Tâylơ của đế quốc Mỹ:
-
Vị trí của vùng chiến lược đô thị trong cách mạng miền Nam:
Khái niệm "ba vùng chiến lược" được hoàn thiện qua thực tiễn kháng chiến. Đô thị là trung tâm chỉ huy chính trị, quân sự, kinh tế và là căn cứ hậu phương an toàn của Mỹ - ngụy. Đảng xác định không thể đánh bại địch hoàn toàn nếu không đánh thẳng vào sào huyệt của chúng. Tại đô thị, phương châm chiến lược xuyên suốt là: “lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu, khi cần thiết có các hoạt động vũ trang trong một mức độ nhất định để hỗ trợ cho phong trào chính trị”.
-
Chủ trương của Đảng chống kế hoạch Xtalây - Tâylơ:
Sau khi Tổng thống Kennedy phê chuẩn kế hoạch Xtalây - Tâylơ với mục tiêu bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, Bộ Chính trị (1/1961) và Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam (10/1961) đã chỉ đạo chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng. Khu ủy Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư, Nguyễn Hồng Đào làm Phó Bí thư đã kiện toàn tổ chức, lập Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Khu Sài Gòn - Gia Định do Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch; đồng thời phân định phương thức đấu tranh rõ rệt giữa nội thành (bảo toàn lực lượng ngầm, đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp) và ngoại thành (đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng bàn đạp).
-
Diễn biến phong tràu tại các đô thị tiêu biểu (1961 - 1963):
- Tại Sài Gòn - Gia Định: Mở màn bằng cuộc đấu tranh của hàng ngàn giáo chức và học sinh sinh viên (17/1/1961). Ngày 27/4/1961, Hội Liên hiệp Công nhân Giải phóng miền Nam thành lập; ngày 1/5/1961 thu hút 16.000 người mít tinh; cuộc bãi công lớn tại hãng dầu STANVAC (4/9/1961) buộc chủ hãng tăng lương từ 6-12%. Năm 1962 ghi nhận 4.500 cuộc đấu tranh với hơn 350.000 lượt người tham gia (tiêu biểu như đình công tại Vinatexco, cao su miền Nam). Đấu tranh vũ trang bùng nổ: Đội vũ trang học sinh sinh viên của Lê Hồng Tư và Hà Văn Hiển diệt chuyên viên không quân William Thomas (6/4/1961), đánh trụ sở USOM (7/4/1961); Đội Biệt động 165 diệt Thiếu tá Phan Bội Ngọc tại Tòa Đô chính (26/10/1962). Các trận đánh vào câu lạc bộ sĩ quan Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất và cơ quan quân sự Mỹ tại đường Trần Hưng Đạo (1963) tiêu diệt nhiều sĩ quan cấp cao.
- Tại Huế: Sau sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm cấm treo cờ Phật giáo dẫn đến vụ nổ súng thảm sát đêm Phật đản (8/5/1963) làm 13 người chết, phong trào Phật giáo bùng nổ dữ dội. Hàng vạn tăng ni, Phật tử và học sinh, sinh viên biểu tình, tuyệt thực 48 giờ. Ngày 13/8 và 16/8/1963, Đại đức Thạnh Tuệ và Hòa thượng Thích Tiêu Diêu tự thiêu tại chùa Từ Đàm. Quần chúng dùng bàn ghế, chướng ngại vật đánh trả cảnh sát dã chiến khi Diệm tuyên bố thiết quân luật (20/8/1963).
- Tại Đà Nẵng: Đầu năm 1962 thành lập Ban Cán sự thành phố do Hà Kỳ Ngộ làm Bí thư, phát triển chi bộ mật nội thành. Năm 1963 liên tiếp nổ ra 3 cuộc biểu tình lớn của hàng chục ngàn người phản đối đàn áp tôn giáo, lôi cuốn 15.000 người tại Hội An và Tam Kỳ hưởng ứng, hỗ trợ lực lượng vũ trang lập đội công tác diệt ác trừ gian.
- Cao trào tại Sài Gòn và sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm: Ngày 11/6/1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng. Ngày 24 - 25/8/1963 nổ ra bãi khóa lớn, nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết làm dấy lên làn sóng chống đối tột độ. Phong trào đô thị kết hợp việc phá 2.500 ấp chiến lược trên toàn miền Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào khủng hoảng không lối thoát, dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 giết chết anh em Diệm - Nhu, khai tử kế hoạch Xtalây - Tâylơ.
Chương 2. Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang tại một số đô thị lớn chống "chiến tranh đặc biệt" từ 1963 đến 1965
Chương 2 phân tích giai đoạn đỉnh cao làm sụp đổ hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và đúc kết các bài học lịch sử:
-
Âm mưu của Mỹ trong kế hoạch Giônxơn - Mác Namara và chủ trương của Đảng:
Sau cái chết của Kennedy, Tổng thống Johnson cử McNamara thị sát miền Nam, lập kế hoạch chiến tranh mới nhằm cứu vãn tình thế. Mỹ cử Westmoreland làm Tư lệnh MACV, Taylor làm Đại sứ, tăng lực lượng cố vấn lên 22.400 tên, quân ngụy lên 417.000 tên, máy bay lên 989 chiếc, đồng thời viện trợ hơn 100 triệu USD (1963 - 1964). Đối phó với địch, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 9 (12/1963), Hội nghị Chính trị đặc biệt (3/1964) và Hội nghị Trung ương Cục lần 2 (3/1964) khẳng định quyết tâm đánh bại "Chiến tranh đặc biệt", chỉ đạo đẩy mạnh tác chiến đô thị, xây dựng "lõm chính trị", tiêu diệt các mục tiêu quân sự Mỹ và đầu sỏ ác ôn.
-
Thực tiễn phong trào đô thị giai đoạn 1963 - 1965:
- Sài Gòn - Gia Định: Lực lượng Biệt động Sài Gòn lập nên những chiến công vang dội: đánh chìm chiến hạm USNS Card (1/5/1964) phá hủy 21 máy bay và tiêu diệt 55 tên Mỹ; đánh rạp Kinh Đô (10/2/1964) diệt và làm bị thương 150 lính Mỹ; tấn công khách sạn Caravelle, cư xá Brink và Tòa Đại sứ Mỹ (30/3/1965) tiêu diệt 190 tên. Sự kiện người thợ điện Nguyễn Văn Trỗi gài mìn cầu Công Lý mưu sát McNamara (1964) và chiến sĩ Trần Văn Đang (1965) nêu cao khí phách cách mạng trước pháp trường. Ở vùng ven, Tiểu đoàn Quyết Thắng bẻ gãy cuộc càn quét tại Củ Chi, tiêu diệt 500 tên địch (1965).
- Thành phố Huế: Phong trào sinh viên và các tầng lớp nhân dân chống độc tài Nguyễn Khánh, phản đối "Hiến chương Vũng Tàu" (8/1964). Các lực lượng đô thị lập ra "Hội đồng nhân dân cứu quốc" do Bác sĩ Lê Khắc Quyến làm Chủ tịch. Tháng 12/1964 nổ ra phong trào biểu tình chống Trần Văn Hương chiếm cầu Tràng Tiền. Ngày 21/1/1965, sinh viên đốt Tòa Lãnh sự Mỹ và Tòa Thông tin Hoa Kỳ. Trong năm 1964 - 1965, phong trào đô thị hỗ trợ giải phóng 160 ấp chiến lược quanh Huế (hơn 10 vạn dân) và phát triển 1.271 du kích.
- Đà Nẵng: Ngày 24/8/1964, hơn 4 vạn người biểu tình chiếm Tòa Thị chính Đà Nẵng, làm chủ thành phố suốt 9 ngày. Cuối năm 1964 và đầu 1965 nổ ra liên tiếp 6 cuộc biểu tình quy mô lớn (có thời điểm thu hút hơn 10 vạn người). Toàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức 189 cuộc đấu tranh chính trị với 73.600 lượt người tham gia; công tác binh vận làm rã ngũ 6.000 binh lính, thu 218 súng, phối hợp thắng lợi Chiến dịch Xuân 1965 (Chiến dịch Nguyễn Văn Trỗi).
- Kết cục: Trước sự sụp đổ trên diện rộng của ngụy quân, ngụy quyền từ nông thôn đến thành thị, ngày 8/3/1965, 3.500 lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng, đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", buộc Mỹ phải chuyển sang "Chiến tranh cục bộ".
- Đặc điểm và bài học kinh nghiệm:
- Đặc điểm nổi bật: Hình thức và khẩu hiệu đấu tranh biến hóa linh hoạt, kết hợp chặt chẽ giữa đòi quyền dân sinh, dân chủ hằng ngày với khẩu hiệu chính trị cao độ; huy động đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia trận tuyến cách mạng gắn liền với sự chi viện của hậu phương miền Bắc và liên minh quốc tế (Lào, Campuchia, các nước xã hội chủ nghĩa).
- Kinh nghiệm lịch sử: (1) Xác định chính xác vị trí chiến lược của đô thị trong mối quan hệ gắn kết ba vùng; (2) Đánh giá đối phương trên quan điểm toàn diện, nắm vững phương châm "biết mình, biết người" để lựa chọn hình thức đấu tranh sắc bén, không ngừng xây dựng và bảo vệ lực lượng cách mạng ngay trong lòng địch.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và tái hiện một bức tranh toàn diện về phong trào đấu tranh cách mạng tại các đô thị trọng yếu ở miền Nam giai đoạn 1961 - 1965 thông qua hệ thống dữ kiện lịch sử cụ thể.
| Đô thị |
Sự kiện đấu tranh chính trị tiêu biểu |
Chiến công và hoạt động vũ trang nổi bật |
Kết quả / Tác động chính trị |
| Sài Gòn - Gia Định |
- Bãi công hãng dầu STANVAC (4/9/1961). - Tự thiêu của HT. Thích Quảng Đức (11/6/1963). - Biểu tình chống thiết quân luật, vụ Quách Thị Trang (8/1963). |
- Biệt động đánh chìm tàu USNS Card (1/5/1964, diệt 55 tên, hủy 21 máy bay). - Đánh rạp Kinh Đô (150 lính Mỹ thương vong). - Đánh Tòa Đại sứ Mỹ (30/3/1965, diệt 190 tên). - Vụ mưu sát McNamara của Nguyễn Văn Trỗi. |
Làm tê liệt cơ quan đầu não đối phương; phá vỡ 2.500 ấp chiến lược, thúc đẩy đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm (1/11/1963). |
| Huế |
- Biểu tình phản đối cấm cờ Phật giáo (8/5/1963). - Sinh viên thành lập "Hội đồng nhân dân cứu quốc" (1964). - Đốt Tòa Lãnh sự và Tòa Thông tin Mỹ (21/1/1965). |
- Tự vệ đánh cảnh sát dã chiến bằng chướng ngại vật. - Lực lượng vũ trang tấn công vùng ven, phá 160 ấp chiến lược (1964). - Phát triển 1.271 dân quân du kích (1965). |
Đập tan chế độ gia đình trị miền Trung của Ngô Đình Cẩn; giải phóng hơn 10 vạn dân vùng nông thôn ven đô thị. |
| Đà Nẵng |
- 3 cuộc biểu tình lớn chống khủng bố Phật giáo (1963). - 4 vạn người biểu tình chiếm Tòa Thị chính (24/8/1964). - 6 cuộc biểu tình chống Trần Văn Hương (hơn 10 vạn người tham gia). |
- Lực lượng an ninh mật rải truyền đơn, treo cờ Mặt trận, đột kích sân bay Đà Nẵng. - Binh vận làm rã ngũ 6.000 lính ngụy, thu 218 khẩu súng. - Phối hợp Chiến dịch Nguyễn Văn Trỗi (Xuân 1965). |
Nhân dân làm chủ thành phố trong 9 ngày (1964); cô lập sào huyệt địch, tạo thế bao vây áp sát nội đô. |
Đóng góp khoa học của khóa luận:
- Khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo trong đường lối của Đảng về việc mở mặt trận tiến công đô thị kết hợp giữa chính trị và vũ trang, bổ sung cho các công trình nghiên cứu trước đây vốn tập trung chủ yếu vào mặt trận nông thôn và rừng núi.
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử chi tiết, có tính phân loại theo từng địa bàn đô thị phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Lịch sử Đảng và Giáo dục Chính trị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được thực hiện ở cấp độ cử nhân đại học nên tồn tại một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến 1965 (giai đoạn "Chiến tranh đặc biệt") và tại ba đô thị lớn (Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng); chưa mở rộng khảo sát các đô thị vừa và nhỏ khác ở miền Nam như Cần Thơ, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt.
- Nguồn tư liệu chủ yếu dựa trên các văn kiện lịch sử và ấn phẩm đã xuất bản trước năm 2005, chưa tiếp cận được nguồn tài liệu lưu trữ từ phía chính quyền Sài Gòn và quân đội Mỹ để đối chiếu đa chiều.
Hướng nghiên cứu tiếp nối:
- Mở rộng nghiên cứu sự chuyển biến về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phong trào đô thị khi Mỹ chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965 - 1968), đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế tổ chức, xây dựng "lõm chính trị" và mạng lưới biệt động nội đô tại các vùng đô thị miền Trung.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng, Lịch sử Việt Nam, Sư phạm Lịch sử khi tìm hiểu về nghệ thuật chỉ đạo ba vùng chiến lược trong kháng chiến chống Mỹ.
- Giảng viên sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các bài giảng về phong trào đô thị miền Nam và giai đoạn lịch sử 1954 - 1975.
- Các nhà nghiên cứu trẻ tìm kiếm khung hệ thống hóa tư liệu về các sự kiện phong trào học sinh, sinh viên, phong trào Phật giáo và lực lượng biệt động tại Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng.
Câu hỏi thường gặp
1. Đảng xác định phương châm kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang tại các đô thị miền Nam như thế nào?
Đảng xác định phương châm cốt lõi tại đô thị là: “lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu, khi cần thiết có kết hợp hoạt động vũ trang trong một mức độ nhất định để hỗ trợ cho phong trào chính trị”. Hoạt động vũ trang nội đô nhằm tiêu diệt các mục tiêu quân sự đầu sỏ, trừ khử ác ôn, phá vỡ bộ máy kìm kẹp và hỗ trợ phong trào quần chúng biểu tình.
2. Phong trào đấu tranh Phật giáo năm 1963 có vai trò gì đối với sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm?
Bắt đầu từ vụ đàn áp cấm treo cờ Phật đản tại Huế (8/5/1963) và đỉnh cao là sự kiện tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức (11/6/1963), phong trào Phật giáo đã thổi bùng làn sóng phản đối trên toàn miền Nam. Cuộc khủng hoảng chính trị - tôn giáo kéo dài đã làm suy yếu bộ máy tay sai, khiến nội bộ địch phân hóa cực độ và buộc Mỹ phải tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Diệm - Nhu vào ngày 1/11/1963.
3. Biệt động Sài Gòn - Gia Định đã lập những chiến công tiêu biểu nào trong giai đoạn 1963 - 1965?
Các trận đánh tiêu biểu gồm: đánh chìm chiến hạm USNS Card (1/5/1964, diệt 55 tên Mỹ, phá hủy 21 máy bay), đánh rạp Kinh Đô (10/2/1964, 150 lính Mỹ thương vong), tấn công cư xá Brink, khách sạn Caravelle và tập kích Tòa Đại sứ Mỹ (30/3/1965, tiêu diệt 190 tên).
4. Phong trào đấu tranh tại Đà Nẵng tháng 8/1964 đạt được kết quả gì nổi bật?
Ngày 24/8/1964, hơn 4 vạn sinh viên, học sinh, tín đồ Phật giáo và đồng bào Đà Nẵng biểu tình chống "Hiến chương Vũng Tàu", tiến vào chiếm Tòa Thị chính Đà Nẵng, buộc thị trưởng bỏ trốn và quần chúng làm chủ thành phố suốt 9 ngày.
5. Tổ chức "Hội đồng nhân dân cứu quốc" tại Huế do ai đứng đầu và ra đời trong bối cảnh nào?
"Hội đồng nhân dân cứu quốc" do Bác sĩ Lê Khắc Quyến làm Chủ tịch, được thành lập trong cao trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, công chức và giới thương gia thành phố Huế năm 1964 nhằm trực diện đấu tranh chống âm mưu thiết lập chế độ độc tài quân sự của tướng Nguyễn Khánh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thế Tài đã phân tích và tái hiện một cách có hệ thống đường lối lãnh đạo của Đảng đối với phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang tại các đô thị lớn ở miền Nam giai đoạn 1961 - 1965. Công trình khẳng định nghệ thuật chỉ đạo tài tình của Đảng trong việc biến các sào huyệt trung tâm của đối phương tại Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng thành mặt trận tiến công sắc bén, phối hợp chặt chẽ với chiến trường nông thôn và rừng núi để đánh bại hai kế hoạch quân sự lớn của Mỹ. Các bài học kinh nghiệm về xác định vị trí chiến lược đô thị, đánh giá tương quan lực lượng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được đúc kết trong khóa luận mang giá trị lý luận và thực tiễn lịch sử sâu sắc.