CHƯƠNG 1: TONG QUAN VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VE QUAN TRI VON LƯU DONG 1. Téng quan và co sở lí luận về vốn lưu động 1. Khái niệm vốn lưu động Bản cân đối kế toán của doanh nghiệp gồm 2 cột, một cột cung cấp các thông tin liên quan đến cau trúc của các khoản đầu tư của doanh nghiệp (bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) và cột còn lại cung cấp thông tin liên quan đến cấu trúc nguồn tài trợ cho các khoản đầu tư đó (bao gồm vốn ngắn hạn và vốn dài hạn). Vốn lưu động là sự luân chuyền của tài sản ngăn hạn từ hàng tồn kho thành các khoản phải trả, tiền dé cung cấp lượng tiền dam bảo cho thanh toán nợ ngắn hạn.
(Gitman & Zutter, 2012) Subramanyam & Wild (2009) định nghĩa vốn lưu động ròng, hay còn gọi là vốn lưu động, là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Vốn lưu động cũng có thé được tính bằng sự chênh lệch giữa vốn dài hạn và tài sản đài hạn. Vốn dài hạn dôi ra sau khi đầu tư vào tài sản dàn hạn cùng với vốn ngắn hạn được đầu tư vào tài sản ngắn hạn. (Hào & Tuấn, 2018) Như vậy, vốn lưu động được tính theo công thức dưới đây: Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn — Nợ ngắn hạn = Nợ dài hạn — Tài sản dài hạn Vốn lưu động ròng Vốn chủ sở hữu Hình 5: Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp (Ross, Westerfield, & Jaffe, 2013) Thành phần của vốn lưu động bao gồm tài sản ngắn hạn và nợ ngăn hạn.
Tài sản ngắn hạn là những tài sản được kì vọng chuyền đổi thành tiền mặt hoặc được sử dụng vào hoạt động của doanh nghiệp trong vòng một năm hoặc chu kỳ hoạt động, tuỳ vào thời gian nào dài hơn; Nợ ngắn hạn là những nghĩa vụ nợ mà công ty phải thực hiện chi trả trong vòng một năm hoặc chu kỳ hoạt động, tuỳ vào thời gian nao dai hơn. Tài sản ngắn hạn được liệt kê trên báo cáo tài chính bao gồm các thành phần cơ bản như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho. Nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả, tiền lương cho công nhân viên. (Hào & Tuan, 2018) Khái niệm này phù hợp trong việc xác định tình hình tài chính thực sự của công ty khi các tài sản ngắn hạn được so sánh với các khoản nợ ngắn hạn.
Lượng tiền cần thiết dé thanh toán các khoản nợ có thé dự đoán được. Khi một nghĩa vụ nợ phát sinh, công ty sẽ nắm bắt được khi nào các khoản thanh toán tương ứng đến hạn. Nhưng công ty thường gặp khó 4ang khi dự đoán dòng tiền vào do sự chuyên đổi của tài sản thành những dạng 4ang4 tính thanh khoản hơn. Công ty có thé dự đoán dong tiền vào tốt hơn khi có ít hơn nhu cầu vốn lưu động ròng của công ty.
Bởi vì các công ty không thé phối khớp dòng tiền vào với dòng tiền ra của minh một cách chắc chan, các công ty thường cần lượng tài sản ngắn hạn nhiều hơn lượng nợ ngắn han dé đáp ứng dòng tiền ra cho các khoản nợ ngắn hạn. Nhìn chung, lượng vốn lưu động ròng của công ty càng lớn thì công ty càng có đáp ứng khả năng thanh toán tốt hơn cho các khoản nợ đến hạn. (Gitman & Zutter, 2012) Ngoài ra, vốn lưu động ròng hoạt động được định nghĩa là tài sản ngắn hạn ròng hoạt động trừ đi nợ ngắn hạn ròng hoạt động. Tài sản ngắn hạn hoạt động bao gồm các khoản mục tiền, khoản phải thu và hàng tồn kho; còn nơ ngắn hạn hoạt động là các khoản phải trả và các khoản mục dồn tích trên bảng cân đối kế toán.
Chứng khoán có thé bán và các khoản đầu tư ngắn hạn khác không được cho là tài sản ngăn hạn hoạt động nên chúng bị bỏ qua khi tính vốn lưu động ròng hoạt động. Như vậy, nghiên cứu về sự luân chuyên vốn lưu động ròng trong bài viết sẽ được thể hiện qua sự luân chuyển giữa các thành phan cơ bản của nó: tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho và khoản phải trả. Khái quát về thành phan vốn lưu động 1. Khái quát chung về tiền Tiền ở đây được hiểu là bao gồm tiền tồn quỹ của doanh nghiệp và tiền gửi ngân hàng không kì hạn, vàng, bạc, kim khí, đá quỹ và tiền đang chuyền.
Tiền được xếp ở vị trí đầu tiên trên Bảng cân đối kế toán và là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, phương tiện thanh toán kịp thời của doanh nghiệp. Doanh nghiệp duy trì tiền là điều cần thiết, vì nó hỗ trợ doanh nghiệp trong những hoạt động sau (Ross, Westerfield, & Jordan, 2013): Đầu cơ: doanh nghiệp nắm giữ tiền dé có thé được hưởng lợi ích từ việc thương lượng tỷ lệ chiết khấu khi thanh toán ngay và từ việc dao động tỷ giá hồi đoái (đối với doanh nghiệp cần giao dịch ngoại tệ). Thực hiện giao dịch hàng ngày: nhu cầu tiền đến từ các giao dịch thông thường bao gồm trả lương, trả nợ thương mai, trả thuế và trả cô tức Đảm bảo số dư bù trừ trong tài khoản ngân hàng: số dư bù trừ trong tài khoản của doanh nghiệp được giữ trong ngân hàng đề bù đắp các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp. Mức yêu cầu số dư bù trừ tối thiểu có thể nằm trong mức thấp hơn mức tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ.
Khoản mục tiền trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp được hình thành và vận động trong suốt quá trình vận hành doanh nghiệp, tạo lên dòng tiền ra và dòng tiền vào (Hào & Tuan, 2018). Dòng tiền vào bao gồm 3 thành phần: Dòng tiền vào từ hoạt động sản xuất, kinh doanh: được tạ ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Dòng tiền vào từ hoạt động đầu tư: được tạo ra từ các tài sản dài hạn của doanh nghiệp như việc thu từ hoạt động thanh lý, nhượng bán, cho thuê máy móc, thiết bi; lãi cho vay vốn, góp vốn liên doanh liên kết: lãi cô tức, trái tức khi mua chứng khoán của doanh nghiệp khác;. Dòng tiền vào từ hoạt động tài chính: được tạo ra từ các hoạt động tài trợ vốn cho doanh nghiệp như tiền thu từ vay các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp khác; nhận góp vốn theo hợp đồng hợp tác đầu tư; thu từ phát hành cô phiêu, trái phiếu;.
Tương tự, dòng tiền ra cũng bao gồm 3 thành phần: Dòng tiền ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh: xuất hiện khi doanh nghiệp thực hiện thanh toán các khoản chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh như mua nguyên vật liệu và các dịch vụ (điện, nước, điện thoại, .); hoạt động bán hàng; hoạt động quản lý doanh nghiệp; trả lãi vay; thuê máy móc, văn phòng, nhà xưởng;. Dòng tiền ra từ hoạt động đầu tư: xuất hiện khi doanh nghiệp tài trợ dé đầu tư hình thành tài sản cổ định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, văn phòng: ngoài ra, dòng tiền ra từ hoạt động này có thể do hoạt động cho vay, góp vốn liên doanh, liên kết hoặc mua chứng khoán của doanh nghiệp khác;. - Dòng tiền ra từ hoạt động tài chính: hình thành do doanh nghiệp hoàn trả nợ vay, nợ thuê, trả cổ tức, mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp dé làm cổ phiếu quy;. Khái quát chung về khoản phải thu Phải thu là các khoản tiền phát sinh khi doanh nghiệp tăng doanh thu từ bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhưng khách hàng chưa thanh toán và các khoản tiền của công ty ứng trước cho công ty khác.
Các khoản phải thu đề cập đến các khoản tiền tăng do doanh thu từ cung cấp hàng hoá dịch vụ, trong khi các hoá đơn phải thu đề cập đến các khế ước chính thức băng văn bản của các khoản phải thu đó. Các công ty có thể có các khoản phải thu mà không cần có giấy nhận nợ chính thức. Các khoản phải thu tiềm ẩn nhiễu rủi ro Các thông tin đầy đủ để đánh giá rủi ro của các khoản phải thu không được thể hiện trên các báo cáo tài chính, mà nó đến từ các nguồn khác nhau của công ty. Các công cụ hữu ích dé đánh giá các khoản phải thu của một công ty bao gồm: e So sánh phần 6ang khoản phải thu trên doanh thu của công ty với các công ty đối thủ, e Kiểm tra mức độ gia tăng tập trung rủi ro khi các khoản phải thu được tập trung vào một hoặc một vài khách hàng, e Tính toán và điều tra xu hướng kì thu tiền bình quân của công ty so với ngành.
Tính xác thực của các khoản phải thu Các khoản phải thu được mô tả trong báo cáo tài chính hoặc thuyết minh báo cáo thường không đầy đủ để đưa ra những đánh giá rằng các khoản phải thu đó là không bị làm giả, có thời gian đáo hạn và có thê thu được. Chung khoán hoá các khoản phải thu Các công ty có thể bán các khoản phải thu của mình cho bên thứ ba, điển hình là tài trợ cho doanh thu của mình bằng việc bán trái phiếu ra thị trường vốn. Hoạt động nay được gọi là chứng khoán hoá. Các khoản phải thu có thé được bán cùng với hoặc không cùng với việc đảm bảo từ nhà phát hành loại chứng khoán này.
Khái quát chung về hàng tôn kho Đối với công ty sản xuất, hàng tồn kho thường được phân loại thành ba loại: nguyên vật liệu thô, sản phẩm do dang và thành phâm (Ross, Westerfield, & Jaffe, 2013). - Nguyên vật liệu thô là bat cứ nguyên vật liệu công ty sử dụng vào giai đoạn đầu trong quá trình sản xuất của mình. Nguyên liệu thô có thể là thứ cơ bản như 6 quặng sắt cho nha sản xuất thép hoặc thứ gì đó tinh vi như 6 đĩa cho nhà sản xuất máy tính. - Loại hàng tồn kho thứ 7ang7 sản phẩm dé dang, là những sản phẩm chưa được sản tạo thành thành phẩm xuất.
Tỷ lệ sản phâm dở dang so với tổng lượng hàng tồn kho phụ thuộc phan lớn vào độ dài của quá trình sản xuất. - Loại hàng tồn kho thứ 3 là thành pham, tức là những sản phâm đã sẵn sàng dé được bán. Còn đối với doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho của nó chính là thành phẩm. (Hào & Tuan, 2018) (Ross, Westerfield, & Jordan, 2013) đưa ra một vài tính chất liên quan đến các loại hàng tồn kho: - Thi nhất, tên của các loại hàng tồn kho có thé dẫn đến nhằm lẫn bởi vì nguyên vật liệu thô của doanh nghiệp này có thé là thành phẩm của doanh nghiệp khác.