đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Phần 2: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam về mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp. Phần 3: Trình bày phương pháp và dữ liệu sử dụng trong luận văn, phần này giải thích mô hình hồi quy được sử dụng và các biến trong mô hình, lý do chọn các biến này đồng thời sẽ giải thích về thời kỳ lấy mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu, phương pháp hồi quy Pooled OLS, FEM, REM và GMM cho dữ liệu bảng và các kiểm định cần thiết. Phần 4: Trình bày, giải thích kết quả nghiên cứu so sánh với các giả thiết đặt ra.
Phần 5: Đề tài đưa ra những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu, hàm ý cho các nhà quản trị, nhà đầu tư, những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu sắp tới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY Vốn luân chuyển được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản gắn hạn và nợ ngắn hạn phải trả. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp.
Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn luân chuyển chuyển hoá qua tất cả các dạng: tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt. Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển chiếm gần như đa số thời gian của các nhà quản trị tài chính. Quản trị vốn luân chuyển với mục tiêu chính là phải đảm bảo đủ dòng tiền để các doanh nghiệp duy trì hoạt động kinh doanh một cách bình thường trên cơ sở giảm thiểu rủi ro mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong ngắn hạn. Do vậy, hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp (Filbeck, Krueger & Preece -2007; Faulender & Wang - 2006): sự thiếu hụt vốn luân chuyển có thể gây trục trặc cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp như rủi ro thanh khoản, chi trả lương cho nhân viên, nguyên vật liệu.
Nhưng đầu tư quá nhiều vào vốn luân chuyển làm giảm rủi ro thanh khoản nhưng sẽ làm tăng chi phí cơ hội của đầu tư, đặc biệt khi doanh nghiệp dùng nguồn vốn từ bên ngoài để tài trợ cho vốn luân chuyển làm giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Một trong những chỉ tiêu đo lường hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển là chu kỳ luân chuyển tiền (Cash Conversion Cycle - CCC) được đưa ra bởi (Richards & Laughlin, 1980) và sau đó là nhiều học giả khác. Chỉ tiêu này đề cập đến khoảng thời gian từ lúc mua nguyên vật liệu, chuyển đổi thành thành phẩm, bán sản phẩm và thu tiền khoản phải thu. Các doanh nghiệp có chu kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn sẽ ít phải đầu tư vào vốn luân chuyển hơn và do vậy chi phí tài trợ của những doanh nghiệp này thường thấp hơn.
Bằng cách sử dụng chu kỳ luân chuyển tiền, các nhà quản lý có thể theo dõi làm thế nào để quản lý vốn luân chuyển hiệu quả trong chu kỳ kinh doanh của họ. Chu kỳ luân chuyển tiền bắt đầu từ khi doanh nghiệp mua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các nguồn nguyên vật liệu, sản xuất, bán sản phẩm và đến khi nhận được tiền từ các sản phẩm bán ra. Nhìn chung, các doanh nghiệp có chu kỳ luân chuyển tiền mặt ngắn hơn sẽ có lợi hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn (Mansoori và Muhammad, 2012). Tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đã là chủ đề chính của rất nhiều nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm trong nhiều năm qua ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Các phương pháp nghiên cứu truyền thống đối với mối tương quan giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi cho thấy rằng chu kỳ luân chuyển tiền khá dài sẽ có xu hướng làm giảm khả năng sinh lợi (Samiloglu và Demirgunes, 2008). Điều đó có nghĩa là giảm đầu tư vào vốn luân chuyển sẽ ảnh hưởng tích cực lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp thông qua việc giảm tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản. Hầu hết các nghiên cứu trong lĩnh vực này cho thấy rằng các doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi bằng cách rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền bởi vì họ đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến mạnh mẽ giữa hai biến số này. Chu kỳ luân chuyển tiền (CCC) là một thước đo được sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, một trong những tiêu chí đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trước như: Eljelly (2004); Abdul Raheman, Talat Afza, Abdul Qayyum, Mahmood Ahmed Bodla (2010); Jose (2003); Mohamad và Saad (2010); Mathuva (2010); Richards & Laughlin (1980) đã chỉ ra chu kỳ chuyển đổi tiền của doanh nghiệp bao gồm các thành phần sau: Chu kỳ khoản phải thu (receivable collection period - RCP): các khoản phải thu là một phần quan trọng trong tài sản ngắn hạn. Chu kỳ khoản phải thu là khoảng thời gian để luân chuyển các khoản phải thu thành tiền mặt. Nếu doanh nghiệp mất nhiều thời gian trong việc phải thu hồi các khoản phải thu, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm. Chu kỳ khoản phải thu được tính dựa trên các nghiên cứu trước như: V.Taghizadeh (2012); Wang (2002); Deloof (2003); Lazaridis và Tryfonidis (2006); Raheman và Nasr (2007); Abdul Raheman, Talat Afza, Abdul Qayyum, Mahmood Ahmed Bodla (2010) bằng cách sử dụng công thức sau đây: Chu kỳ khoản phải thu (Các khoản phải thu Doanh thu thuần)*365 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chu kỳ hàng tồn kho (Inventory Conversion Period ICP): Đây là chỉ số thời gian để chuyển đổi nguyên vật liệu sang thành phẩm và sau cùng thành doanh thu.
Chỉ số này đánh giá hiệu quả trong việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp mất nhiều thời gian trong việc bán hàng có nghĩa là hàng tồn kho chậm luân chuyển thành doanh thu, sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Chu kỳ hàng tồn kho được tính dựa trên các nghiên cứu trước như: Wang (2002); Deloof (2003); Lazaridis và Tryfonidis (2006); Raheman và Nasr (2007); Abdul Raheman, Talat Afza, Abdul Qayyum và Mahmood Ahmed Bodla (2010); Lazaridis và Tryfonidis (2006); Raheman và Nasr (2007) bằng cách sử dụng công thức sau đây: Chu kỳ hàng tồn kho (Hàng tồn kho Giá vốn hàng bán)*365 Chu kỳ khoản phải trả (Payable Deferral Period PDP): Chu kỳ khoản phải trả là khoản thời gian giữa việc mua nguyên vật liệu và thanh toán tiền mặt cho nhà cung cấp. Nếu doanh nghiệp kéo dài thời gian thanh toán thì nó sẽ tác động tích cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp vì doanh nghiệp có thể sử dụng khoản tiền đó trong một khoản thời gian.
Tuy nhiên, đẩy nhanh tiến độ thanh toán cho nhà cung cấp có thể tăng lợi nhuận vì được hưởng khoản chiết khấu đáng kể từ nhà cung cấp. Chu kỳ khoản phải trả được tính dựa trên các nghiên cứu trước như: Wang (2002); Deloof (2003); Lazaridis và Tryfonidis (2006); Raheman và Nasr (2007); Abdul Raheman, Talat Afza, Abdul Qayyum, Mahmood Ahmed Bodla (2010); Lazaridis và Tryfonidis (2006); Raheman và Nasr (2007); Sharma và Kumar (2011) bằng cách sử dụng công thức sau đây: Chu kỳ khoản phải trả (Các khoản phải trả Giá vốn hàng bán)*365 Chu kỳ luân chyển tiền (CCC): Chu kỳ luân chyển tiền là một sự kết hợp của nhóm chỉ số hoạt động liên quan đến khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả. Khoản phải thu và hàng tồn kho là tài sản ngắn hạn, trong khi khoản phải trả thuộc nợ phải trả. Về bản chất, các chỉ số này cho thấy hiệu quả quản lý trong việc sử dụng tài sản và nợ phải trả ngắn hạn để tạo ra tiền mặt.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chu kỳ luân chuyển tiền mặt Chu kỳ khoản phải thu + Chu kỳ hàng tồn kho – Chu kỳ khoản phải trả. Có thể thấy rằng vốn luân chuyển có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên kết quả nghiên cứu ở mỗi quốc gia là khác nhau. Sau đây tôi sẽ liệt kê các kết quả từ những nghiên cứu trước theo 2 hướng: Bằng chứng thực nghiệm về ảnh hƣởng quản trị vốn luân chuyển lên thành quả của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu phát hiện mối quan hệ cùng chiều: Jose, Lancaster và Stevens (1996) đã nghiên cứu tác đông của vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của 2718 doanh nghiệp trong 20 năm từ 1974 tới 1993, và kết quả họ chỉ ra rằng vòng quay tiền mặt thấp làm gia tăng tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Nghiên cứu Sin và Soenan (1998): sử dụng mẫu bao gồm 58985 doanh nghiệp trong giai đoạn 1975-1994. Trong bài nghiên cứu của mình, các tác giả đã sử dụng chu kỳ thương mại thuần (NTC) để kiểm tra mối tương quan giữa lợi nhuận doanh nghiệp và hiệu quả quản lý vốn luân chuyển thông qua phân tích tương quan và phân tích hồi quy. Bài nghiên cứu đã tìm thấy mối tương quan âm giữa chu kỳ thương mại thuần và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Dựa trên kết quả tìm được, họ khuyến nghị bằng cách giảm độ dài của chu kỳ thương mại thuần có thể làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Wang (2002) xem xét mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, giữa quản trị tính thanh khoản và giá trị doanh nghiệp ở Nhật Bản và Đài Loan. Tác giả đã tìm ra mối tương quan âm giữa vòng quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần, nhưng cả hai mối tương quan khá nhạy cảm với yếu tố ngành. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Jose (2003) nghiên cứu 2718 doanh nghiệp từ 1974 đến 1993 sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, và kết quả tương quan âm giảm (CCC) sẽ tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp cho các nghành công nghiệp sản xuất, dịch vụ, bán lẻ.
Nghiên cứu của Deloof (2003): sử dụng một mẫu của 1009 các doanh nghiệp phi tài chính lớn của Bỉ trong khoảng thời gian 1992-1996.