Đặt Vấn Đề Phần II: Nội Dung Và Kết Quả Nghiên Cứu Chƣơng 1:Cơ sở khoa học về quản trị kho hàng Chƣơng 2: Kết quả nghiên cứu kho hàng tại công ty TNHH TM Quang Thiện Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp tối ƣu hóa quản trị kho hàng tại công ty TNHH TM Quang Thiện Phần III: Kết Luận Và Kiến Nghị 5 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN TRỊ KHO HÀNG 1. Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến quản trị kho hàng Luận văn của tác giả Đặng Thế Linh (2021) đề tài “Nghiên cứu hệ thống kho hàng thông minh phục vụ hậu cần” đã nắm vững đƣợc các phƣơng pháp tính toán, thiết kế mô hình kho hàng thông minh kiểu Mimiload. Ngoài ra, đề tài cũng đã thể hiện những phần việc của một kỹ sƣ ngành Cơ điện tử từ khâu thiết kế toàn diện đến gia công chi tiết cơ khí trong thực tế. Luận văn của tác giả Tống Thị Luyến (2019) đề tài “Quản trị kho hàng trung tâm tại công ty cổ phần Logistics SC – TH Group” đã chỉ ra đƣợc sự hợp lý trong công tác sản xuất và sử dụng nhân lực, đáp ứng đƣợc các yêu cầu nhiệm vụ.
Hệ thống kho bãi rộng, thông thoáng giúp cho việc xuất nhập hàng hóa đƣợc thuận tiện, công tác bốc xếp hàng hóa cũng đƣợc thuận lợi. Ngoài ra, tác giả cũng đã chỉ ra đƣợc về quy trình luân chuyển chứng từ, hàng hóa chặt chẽ đảm bảo đúng nguyên tắc, cùng sự hỗ trợ từ phần mềm SAP đã giúp cho nhà quản trị kiểm soát hoạt động của kho Mega cũng nhƣ các kho khác trong hệ thống. Luân văn của tác giả Phan Sel (2018) đề tài “Quản trị hàng tồn kho tại công ty cổ phần xât dựng trang trí nội thất Thành Đô” đã chỉ ra những thực trạng về chính sách tồn kho, quá trình tổ chức thực hiện hàng tồn kho, kiểm soát hàng tồn kho và tác giả đã đƣa ra đƣợc những tiềm ẩn rủi ro và hạn chế trong quá trình quản trị hàng tồn kho của Công ty Thành Đô. Nghiên cứu “Quản trị hàng tồn kho tại công ty cổ phần cao su Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Hồ Diệu Uyên (2014) đã chỉ ra những thực trạng trong quản trị kho hàng của DN về việc dự báo nhu cầu tiêu thụ, công tác lƣu trữ hàng tồn kho, lựa chọn nhà cung cấp và đặt hàng, vận chuyển, kiểm soát hàng tồn kho.
Đồng thời tác giả cũng đã nêu những ƣu điểm và hạn chế trong công tác quản trị kho hàng của công ty cổ phần cao su Đà Nẵng. Luận văn của tác giả Cao Quảng Sang đề tài “Quản trị hàng tồn kho ống nhựa tại công ty TNHH một thành viên vật liệu xây dựng Hoa Sen” đã trình bày về những chính sách quản trị hàng tồn kho, quá trình tổ chức thực hiện quản trị hàng tồn kho, 6 kiểm soát chất lƣợng hàng tồn kho. Đồng thời tác giả cũng đã áp dụng mô hình EOQ trong công tác sản xuất, cung ứng hàng hóa. Luận văn của Nicholas J.
Cross (2019) đề tài “The impact of executing a warehouse management system” tạm dịch “Tác động của việc thực hiện thay đổi hệ thống quản trị kho” đã có những nghiên cứu về việc lựa chọn hệ thống có thể xử lý đƣợc sự phức tạp của nhiều dòng sản phẩm khi hạn chế về số lƣợng sửa đổi cần thiết để thực hiện tất cả các chức năng. Cross cũng đã chỉ ra răng các quy trình thủ công trong quản trị kho hàng đã làm cho hệ thống của họ khó theo dõi chuyển động hàng tồn kho và xử lý đơn hàng. Vấn đề về quản trị kho hàng luôn đƣợc nghiên cứu sâu sắc trên thế giới và tại Việt Nam. Tuy nhiên, tại công ty TNHH Thƣơng Mại Quang Thiện chƣa có sự nghiên cứu về công tác quản trị kho hàng, qua khóa luận này tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ có ích đối với công ty TNHH Thƣơng Mại Quang Thiện.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về kho hàng 1. Một số khái niệm liên quan đến kho hàng 1. Khái niệm Logistics và quản trị Logistics Logistics đề cập đến quá trình tổng thể quản lý các thu thập tài nguyên, lƣu trữ và vận chuyển đến đích cuối cùng. Quản trị logistics liên quan đến việc xác định các nhà phân phối và nhà cung cấp tiềm năng cũng nhƣ xác định tính hiệu quả và khả năng tiếp cận của họ.
Các nhà quản lý Logistics đƣợc gọi là nhà Logistics (WILL KENTON, 2023). Khái niệm về chung về kho hàng và tồn kho Kho hàng là loại hình cơ sở Logistics thực hiện việc dự trữ, bảo quản và chuẩn bị hàng hóa nhằm cung ứng hàng hóa cho khách hàng với trình độ dịch vụ cao nhất và chi phí thấp nhất (Khai Hoan Chu, 2019).[7] Quản trị kho hàng bao gồm các nguyên tắc và quy trình liên quan đến việc vận hành các hoạt động hàng ngày của kho hàng. Ở mức độ cao, quản trị kho hàng bao gồm việc tiếp nhận và tổ chức không gian kho, lập kế hoạch lao động quản trị hàng tồn kho và thực hiện các đơn đặt hàng. Phóng to hơn sẽ thấy rằng quản trị kho hàng hiệu quả bao gồm việc tối ƣu hóa và tích hợp từng quy trình đó để đảm bảo tất cả các khía 7 cạnh của hoạt động kho hàng phối hợp với nhau nhằm tăng năng suất và giữ chi phí ở mức thấp nhất (Abby Jenkins, 2020).[8] Hệ thống tồn kho hiệu quả sẽ có thể giúp cho doanh nghiệp giảm đi đáng kể các chi phí thông qua các phƣơng pháp quản trị tồn kho, và tính toán các thống số phù hợp đối với kho hàng của mình.
Doanh nghiệp cần tính toán, dự báo mức tồn kho của mình để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng nhƣng đồng thời mức dự trữ không quá cao để gây ra tốn kém về chi phí. Khái niệm về quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng Quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng là việc triển khai thực hiện nhiều chiến lƣợc thiết yếu nhằm hạn chế tối đa các nguy cơ tiềm ẩn có thể gây đứt đoạn chuỗi cung ứng của doanh nghiệp. Nhờ vậy, chuỗi cung ứng sẽ đƣợc đảm bảo vận hành liên tục, trơn tru (Nguyễn Phƣơng Dung, 2023)[9]. Quản trị chuỗi cung ứng tốt sẽ đem đến những thay đổi tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, phát huy tối đa vai trò của chuỗi cung ứng, đồng thời xây dựng những phƣơng án ứng phó kịp thời đối với những rủi ro có thể xảy ra.
Phân loại hàng tồn kho Một chuỗi cung ứng điển hình bao gồm có nhà cung ứng và nhà sản xuất, những ngƣời có nhiệm vụ dịch chuyển nguyên vật liệu vào thành phẩm, và các trung tâm phân phối và nhà kho mà qua đó sản phẩm hoàn thành sẽ đƣợc phân phối đến cho khách hàng. Tồn kho xuất hiện trong chuỗi cung ứng dƣới một vài hình thức: tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho trong sản xuất và tồn kho thành phẩm (Bùi Nhƣ Hiển và Đặng Trung Kiên, 2021). Chức năng nhiệm vụ của kho hàng Kho hàng đƣợc xem là một mắt xích quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Kho hàng kết nối hoạt động sản xuất và kinh doanh giúp cho chuỗi cung ứng không bị đứt gãy gây ảnh hƣởng đến quá trình sản xuất kinh doanh.
Kho hàng có thể sử dụng để hỗ 8 trợ quá trình sản xuất, đồng thời liên kết, đồng bộ các sản phẩm từ các nhà máy khác nhau để giao cho khách hàng. Chia nhỏ những lô hàng lớn và gom góp những lô hàng nhỏ thành khối lƣợng lớn tùy theo mục đích sử dụng, nhu cầu của khách hàng. Mỗi doanh nghiệp đều phải cần lập kế hoạch mua hàng với một số lƣợng phù hợp tối ƣu nhất và sử dụng kho hàng của mình để tiến hành gom hàng, ghép hàng, tách hàng để phù hợp với nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tối ƣu hóa chi phí từ chi phí vận tải, chi phí lƣu kho và chi phí dịch vụ khác. Thị trƣờng luôn có những biến động về giá cả, khi nguyên vật liệu đầu vào hay hàng hóa có giá thấp sẽ đƣợc doanh nghiệp mua hàng và tập kết tại kho hàng của doanh nghiệp.
Ngoài ra, kho hàng giúp giúp hàng hóa đƣợc nguyên vẹn về số lƣợng, chất lƣợng trong suốt quá trình diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hay doanh nghiệp Logistics ngày càng phát triển rộng rãi khắp Việt Nam. Mức độ phân phối luân chuyển hàng hóa ngày càng cao và quy mô lớn. Vì vậy, hàng tồn kho ngày càng lớn và chủng loại sản phẩm càng phong phú và đa dạng điều này đòi hỏi đến nhu cầu kho bãi và nhân lực quản trị kho bãi rất cao.
Làm đủ lƣợng hàng tồn kho sẵn có: mục đích chính là đảm bảo hàng tồn kho sẵn có theo yêu cầu trong mọi thời điểm. Vì sự thiếu hụt và dƣ thừa hàng tồn kho đều chứng tỏ cho sự tốn kém trong tổ chức điều hành. Nếu thiếu hụt hàng tồn kho thì dây chuyền sản xuất sẽ bị gián đoạn. Hậu quả là việc sản xuất giảm đi hoặc không thể sản xuất, làm giảm việc kinh doanh khiến doanh thu và lợi nhuận giảm đi.
Mặc khác, nếu dƣ thừa hàng tồn kho sẽ kéo dài thời gian sản xuất và phân phối luồng hàng hóa (Bùi Nhƣ Hiển và Đặng Trung Kiên, 2021).[10] Giảm chi phí và đầu tƣ cho hàng tồn kho: liên quan gần nhất đến mục đích trên là làm giảm cả chi phí lẫn khối lƣợng đầu tƣ vào hàng tồn kho. Điều này đạt đƣợc chủ yếu bằng cách đảm bảo khối lƣợng cần thiết hàng tồn kho trong tổ chức mọi thời điểm. Điều này có lợi cho tổ chức theo hai cách. Một là khoản tiền không bị chặn khi hàng tồn kho chƣa đƣợc sử dụng tới và có thể đƣợc sử dụng để đầu tƣ vào những nơi khác để kiếm lời.
Hai là nó sẽ làm giảm các chi phí thực hiện, đồng thời sẽ tăng lợi nhuận (Bùi Nhƣ Hiển và Đặng Trung Kiên, 2021).[10] 9 Nhiều nhà phân phối, doanh nghiệp mua hàng hay ngƣời tiêu dùng phải chịu những chi phí khổng lồ cho việc thuê kho bãi bởi sự không phù hợp trong việc quản trị kho hàng khi không tuân theo những nguyên tắc nhập hàng xuất hàng, không thể quản lý những mặt hàng trong kho hay không tối ƣu hóa không gian trong kho hàng. Vì thế cần có sự quản lý chặt chẽ về kho hàng thông qua việc phân loại hàng hóa theo loại A, B, C…cho các mặt hàng trong kho chứa tùy thuộc vào giá trị và số lƣợng hàng hóa.