Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, cấu trúc của luận văn gồm 4 chƣơng: 4 z Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về quản trị tinh gọn. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 4: Mô hình quản trị tinh gọn và giải pháp áp dụng ở Khoa Khám bệnh của Bệnh viện Bạch Mai.
5 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ TINH GỌN 1. Tổng quan về quản trị tinh gọn 1. Các nghiên cứu ngoài nƣớc Sự thành công thần kỳ của những tập đoàn lớn ở Nhật Bản trong những năm đầu của thế kỷ XX khiến các nhà nghiên cứu tập trung tìm lời giải cho những thành công đó. Các lý thuyết quản trị - cách làm của ngƣời Nhật đƣợc quan tâm nghiên cứu sâu rộng, trong đó đặc biệt là lý thuyết về QTTG.
Thuật ngữ QTTG đã trở nên quen thuộc và gắn với ý nghĩa cải tiến quy trình hay hệ thống tinh gọn từ khi Jame P.Womack và Daniel T.Jones xuất bản cuốn “Lean thinking: Loại bỏ lãng phí và nâng cao giá trị cho tổ chức” rất thành công trên thế giới (Womack, Jones, 2003). Trƣớc đó QTTG đƣợc phát triển bởi Henry Ford và dựa trên hệ thống sản xuất của Toyota đƣợc xây dựng bởi Kiichiro Toyoda vào những năm 1930. Sau đây là một số nghiên cứu tiêu biểu: Jens J. Dahlgaard, Su Mi Dahlgaard-Park (2006), trong tác phẩm: “Sản xuất tinh gọn, 6 Sigma1, quản lý chất lượng toàn diện và văn hóa doanh nghiệp” (Lean production, Six Sigma quality, TQM and company culture) đã cho thấy triết lý SXTG và 6 Sigma cơ bản giống nhau, có chung nguồn gốc quản lý chất lƣợng tổng thể (TQM - Total Quality Management) của Nhật Bản.
Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định SXTG và 6 Sigma là các công cụ mới thay thế cho TQM, đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng đôi khi tập trung quá nhiều vào công cụ đào tạo con ngƣời mà đã bỏ qua ý thức, hiểu biết của họ. 1 Sáu Sigma hay 6 Sigma là hệ thống bao gồm các công cụ và chiến lƣợc nhằm nâng cao quá trình hoạt động do hãng Motorola phát triển đầu tiên vào năm 1985. 6 Sigma trở lên phổ biến sau khi Jack Welch áp dụng triệt để nó trong chiến lƣợc kinh doanh của ông tại General Electric năm 1995 và ngày nay phƣơng pháp này đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Lewis (2000) “Sản xuất tin gọn và lợi thế cạnh tranh bền vững” (Lean production and sustainable competitive advantage) đã phân tích chi tiết về SXTG, 6 Sigma và TQM, đồng thời đi sâu vào ba trƣờng hợp cụ thể để kết luận rằng SXTG góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững của tổ chức.
Tác giả cũng đƣa ra một số đề xuất làm tiền đề cho các nghiên cứu sau này. Hiroshi Katayama, David Bennett (1996) “Sản xuất tinh gọn trong thế giới cạnh tranh thay đổi: Viễn cảnh Nhật Bản” (Lean production in a changing competitive world: A Japanese perspective) đã phân tích các khái niệm cơ bản của SXTG và xu hƣớng của Nhật Bản, giải thích đƣợc tại sao trong giai đoạn khủng hoảng, các yếu tố môi trƣờng bên trong và bên ngoài lại ảnh hƣởng đến khả năng tồn tại của SXTG ở Nhật Bản. Nhóm tác giả cũng đi khảo sát bốn trƣờng hợp cụ thể để tìm ra các vấn đề trong việc áp dụng SXTG ở Nhật Bản và đƣa ra một số khái niệm mới phù hợp với điều kiện môi trƣờng. Yang Pingyu, Yu yu (2010) “Những rào cản trong việc áp dụng sản xuất tinh gọn tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa và một số giải pháp: Trường hợp các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Wenzhou” (The barriers to SMEs’ implementation of lean production and countermeasures - Based on SME in Wenzhou) bằng việc khảo sát các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thành phố Wenzhou, nhóm tác giả phân tích những khó khăn mà tổ chức gặp phải khi áp dụng SXTG, từ đó đƣa ra một số giải pháp tập trung vào bốn điểm bao gồm: i) Sự quan tâm của ban lãnh đạo, ii) kỹ năng giao tiếp, iii) tổ chức đào tạo và iv) xây dựng hệ thống đánh giá năng suất.
Chứng minh cho tính hiệu quả của QTTG, trên thế giới đã có nhiều học giả nghiên cứu về các yếu tố giúp triển khai QTTG thành công cũng nhƣ các phƣơng pháp giúp tổ chức đánh giá hiệu quả và mức độ “tinh gọn” của tổ chức. 7 z Mô hình sớm nhất đƣợc đƣa ra năm 1995 bởi Day. Tác giả này đã đề cập đến hai yếu tố đƣợc xem là quan trọng nhất giúp tổ chức triển khai QTTG thành công là vai trò dẫn dắt của lãnh đạo và sự sẵn sàng thay đổi văn hóa doanh nghiệp. Soriano Meier và Forrester (2002) chỉ ra hiệu quả lãnh đạo, khả năng giải quyết vấn đề theo nhóm, hoạt động đào tạo và trao quyền cho nhân viên là các yếu tố ảnh hƣởng chính đến hiệu quả triển khai JIT hay Just- in-time (Nguyên tắc tức thời) và TQM.
Với các nguồn lực hạn chế (Finch, 1986; Lee, 2004), việc áp dụng QTTG trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang là hƣớng đi phù hợp và đã đƣợc chứng minh bằng thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới (Panizzolo, 1998; Lee, 1997). Đây là phƣơng pháp quản trị có thể giúp các tổ chức tận dụng các nguồn lực bên trong để cải thiện năng lực sản xuất và đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách hàng (Golhar và cộng sự, 1990). Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể áp dụng QTTG bằng việc bắt đầu áp dụng các công cụ cơ bản và không đòi hỏi sự đầu tƣ nhiều nhƣ 5S, Kaizen, Quản lý bằng công cụ trực quan, Cân bằng luồng sản xuất (Lee, 1997; Gunasekaran và cộng sự, 2000; Rothenberg và Cost, 2004). Cumming (2004) và Shetty (2002) một lần nữa cùng nhau chỉ ra ba yếu tố quan trọng dẫn đến triển khai quản trị tinh gọn thành công là con người, công nghệ và hệ thống.
Ba yếu tố chính này tiếp tục đƣợc diễn giải bằng bẩy yếu tố phụ là: Tập trung vào khách hàng, nhân sự, văn hóa, xây dựng chất lƣợng, tiêu chuẩn hóa, cải tiến liên tục và hạn chế lãng phí. Năm 2012, một nghiên cứu tổng quan đƣợc thực hiện bởi Kyle nhằm tổng hợp tất cả các nghiên cứu về “tinh gọn” bao gồm cả SXTG và QTTG nhằm giúp các học giả sau này thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm tài liệu về “tinh gọn”. Tác giả này đã kết luận lỗ hổng lớn nhất còn đang tồn tại trong hệ thống các nghiên cứu về “tinh gọn” chính là sự kết nối giữa lý thuyết về tƣ duy này và thực tế áp 8 z dụng tại tổ chức. Bên cạnh đó, sự thiếu sót thứ hai chính là những nghiên cứu về cách sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả để phát huy tác dụng của tƣ duy “tinh gọn”.
Các nghiên cứu trong nƣớc Tại Việt Nam, số lƣợng các nghiên cứu về SXTG và QTTG còn tƣơng đối hạn chế và chƣa có nhiều tài liệu nói về QTTG. Phần lớn các tài liệu trình bày về phƣơng pháp SXTG mới chỉ dừng ở các nội dung giới thiệu về lý thuyết và một số phân tích giới thiệu về thành công của QTTG ở các tổ chức nƣớc ngoài. Năm 2010, các tác giả Nguyễn Thị Đức Nguyên và Bùi Nguyên Hùng đã trình bày tổng quan về phƣơng pháp SXTG và bốn bƣớc cơ bản để một tổ chức bắt đầu triển khai. Tuy nhiên tài liệu này chƣa đề cập chi tiết đến các yếu tố mềm của tổ chức nhƣ nguồn nhân lực hay các bƣớc chuẩn bị để có thể thực hiện đƣợc.
Năm 2013, 2014, tác giả Nguyễn Đăng Minh và cộng sự đã nghiên cứu tổng thể về tình hình áp dụng SXTG tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đi sâu vào phƣơng pháp 5S. Nhóm tác giả đã chỉ ra số lƣợng doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng SXTG còn rất ít và mức độ triển khai ở các doanh nghiệp đã áp dụng cũng rất hạn chế. Do vậy, có thể kết luận rằng số lƣợng nghiên cứu về QTTG tại Việt Nam còn rất ít, các nghiên cứu và tài liệu mới chỉ để cập đến cơ sở lý thuyết về QTTG và sự cần thiết của việc áp dụng linh hoạt QTTG theo văn hóa và tập quán sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này lý giải cho việc QTTG đã du nhập vào Việt Nam hơn 10 năm nhƣng số lƣợng doanh nghiệp áp dụng thành công chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp lớn có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, còn lại phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang loay hoay tìm lời giải cho bài toán áp dụng hoặc từ bỏ QTTG.
Điều này đang phản ánh nhu 9 z cầu cấp thiết của một mô hình áp dụng QTTG phù hợp để các tổ chức ở Việt Nam có thể sử dụng đƣợc và từ đó duy trì, khai thác hiệu quả và bền vững phƣơng pháp này. Nhận thấy thực trạng và tính cấp thiết của một mô hình triển khai phù hợp cho các tổ chức, doanh nghiệp, nghiên cứu đƣợc thực hiện với mục tiêu tìm ra mô hình thích hợp triển khai QTTG tại các tổ chức ở Việt Nam. Định hƣớng nghiên cứu chính là tập trung vào các yếu tố giúp tổ chức/doanh nghiệp có thể áp dụng thành công QTTG. Nghiên cứu về phƣơng thức quản lý/quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ở các cơ quan hành chính, sự nghiệp ở Việt Nam cũng là một nội dung đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, song các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nâng cao năng lực quản lý của cán bộ; tăng cƣờng ứng dụng các công cụ nhƣ: Tin học hóa quản lý, áp dụng các quy trình quản lý, tác nghiệp theo tiêu chuẩn ISO.
chứ chƣa có công trình nào nghiên cứu để tìm giải pháp áp dụng QTTG vào nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính, sự nghiệp đó, đặc biệt là ở các bệnh viên Trung ƣơng ở Việt Nam. Cơ sở lý luận chung về quản trị tinh gọn 1. Khái niệm về quản trị và quản trị tinh gọn 1. Khái niệm về quản trị: Theo Trần Anh Tài (2007, trang 10): “Quản trị là quá trình tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản trị lên đối tƣợng quản trị nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra”.