Chương 1: Những vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực. Chương 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực tại Bệnh viện Ung thƣ Dà Nẵng. Chương 3: Đào tạo nguồn nhân lực tại Bệnh viện Ung thƣ Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Về lý thuyết, đào tạo và tổ chức đào tạo trong doanh nghiệp đƣợc khá nhiều tài liệu, giáo trình về quản trị nguồn nhân lực của các tác giả trên thế giới nghiên cứu và đề cập.
Các cuốn sách của Dessler (2011), Carell và các cộng sự (1995), Martin Hilb (2003); George T.Boudreau (2005) đều nhấn mạnh rằng đào tạo là quá trình học tập nhằm trang bị cho ngƣời học các kiến thức, kỹ năng và khả năng thực hiện công việc, đào tạo đƣợc nhắc đến nhƣ một giải pháp chiến lƣợc cho hoạt động của doanh nghiệp. Một số nghiên cứu đã phân biệt khái niệm đào tạo chung và đào tạo chuyên biệt (Carrell và các cộng sự, 1995; Black & Lynch, 1996) và nhấn mạnh, doanh nghiệp chỉ nên chi trả cho đào tạo chuyên biệt bởi đào tạo chuyên biệt chỉ giúp tăng năng suất và hiệu quả làm việc của nhân viên khi nhân viên có phƣơng pháp làm việc và quen thuộc với máy móc thiết bị của doanh nghiệp đó. Các tác giả cũng đã tổng kết nội dung, hình thức, phƣơng pháp đào tạo và tổ chức đào tạo trong doanh nghiệp. Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1998), Sách Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nƣớc ta, Hà Nội.
Cuốn sách đã luận giải một số vấn đề lý 5 luận cơ bản về nguồn nhân lực; trình bày thực trạng phát triển nguồn nhân lực, từ đó khái quát một số kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các cƣờng quốc trên thế giới trong những thập kỷ gần đây và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, tập trung vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo, coi đó là yếu tố quyết định đến đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Cuốn sách chỉ ra rằng, sự phát triển thành công và cất cánh của một quốc gia luôn gắn chặt với chính sách và chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo, tức là “chiến lƣợc trồng ngƣời”. Dƣơng Văn Quảng, Bành Tiến Long, Trịnh Đức Dụ (Chủ biên – 2009), Sách Kỷ yếu Hội thảo “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế”, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội. Cuốn sách tập hợp những bài viết về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, nhiều bài đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, chỉ ra hạn chế, bất cập của nguồn nhân lực nƣớc ta trƣớc đòi hỏi của hội nhập quốc tế; làm rõ những vấn đề hạn chế do giáo dục đào tạo; xác định những vấn đề cơ bản đối với giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế.
Bộ Y tế và nhóm đối tác y tế (2014), trong “Báo cáo chung tổng quan của ngành y tế năm 2014” đã chỉ ra những nhƣợc điểm trong công tác đào tạo và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực y tế. Từ đó xây dựng kế hoạch dài hạn về đổi mới toàn diện hệ thống đào tạo nhân lực y tế; hệ thống kiểm định chất lƣợng đào tạo nhân lực y tế cũng nhƣ kiểm chuẩn chất lƣợng đầu ra. Đối với đào tạo Cán bộ quản lý, Supic, và các cộng sự (2010) trong bài “Đào tạo và nâng cao kỹ năng quản lý bệnh viện – trƣờng hợp của Séc bia” đã phân tích sự cải thiện các kỹ năng quản lý của nhà quản lý bệnh viện sau một chƣơng trình đào tạo cụ thể về quản trị chiến lƣợc và kết luận rằng đào tạo quản lý chiến lƣợc làm tăng năng lực quản lý và là nguồn lực quan trọng tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. 6 Nguyễn Công Khẩn (2012) trong bài nghiên cứu “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực y tế Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020” đã nhận định rằng nhân lực y tế là yếu tố quyết định chất lƣợng dịch vụ y tế, hiệu quả của công tác chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Chính vì thế, nhân lực y tế trở thành một vấn đề trọng tâm trong cải cách hệ thống y tế. Qua đó, đề xuất đổi mới đào tạo đại học, sau đại học. Hơn nữa, đào tạo nhân lực y tế cũng cần thay đổi một số công tác về đào tạo nguồn nhân lực y tế nhƣ tăng cƣờng đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội, giảm bớt đào tạo liên thông… Ngoài ra, đổi mới đào tạo phải gắn liền với quản lý và sử dụng nhân lực y tế. Đồng thời, đổi mới đào tạo cũng cần phải gắn liền và phục vụ tích cực, có hiệu quả đối với công tác đổi mới hệ thống y tế nói chung.
7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực có nhiều ý kiến, theo George T.Boudreau: Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức [26].
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tổng thể các tiềm năng của con ngƣời, trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách, đƣợc huy động vào quá trình lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp [17]. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp (Tài chính, vốn, tài nguyên thiết bị…). Đó là tài nguyên quý giá nhất vì con ngƣời là vấn đề trung tâm và quan trọng bậc nhất trong mọi tổ chức, doanh nghiệp. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó [21].
Theo Giáo sƣ, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diện quốc gia hay địa phƣơng, nguồn nhân lực đƣợc xác định là “tổng thể các tiềm năng lao động của một nƣớc hay một địa phƣơng, tức là nguồn lao động đƣợc chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con 8 đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo cách hiểu này, nguồn nhân lực là nguồn lao động sẵn sàng tham gia lao động trong phạm vi quốc gia, vùng hay địa phƣơng. Một cách chung nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm ngƣời, một tổ chức, một địa phƣơng hay một quốc gia.
Độ tuổi lao động đƣợc qui định cụ thể ở mỗi nƣớc có khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay, theo qui định của Bộ luật lao động, tuổi lao động của nam từ 15 đến 60 và của nữ từ 15 đến 55 tuổi [10]. Nguồn nhân lực: Là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao gồm: thể lực, trí lực và nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi. Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo: (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng) đƣợc hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập làm cho ngƣời lao động nắm vững hơn về công việc của mình, nâng cao trình độ, kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn [15]. Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận đƣợc một công việc nhất định [17]. Đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động làm cho con ngƣời trở thành ngƣời có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho ngƣời lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ [11] 9 Đào tạo nguồn nhân lực: Là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm ngƣời, một tổ chức nhằm trang bị kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hàng về một vấn đề có thể thực hiện đƣợc công việc hoặc thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ [17].
Nhƣ vậy, Đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động nâng cao trình độ và kỹ năng của mình trong công việc hiện tại, giúp cho ngƣời lao động thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Nguồn nhân lực y tế Năm 2006, WHO đã đƣa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, ngƣời làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế. Nó bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (nhƣ tình nguyện viên xã hội, những ngƣời chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…); kể cả những ngƣời làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (nhƣ quân đội, trƣờng học hay các doanh nghiệp) [12].
Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tƣợng đƣợc coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dƣợc và tất cả những ngƣời khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tƣ nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vƣờn).