CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CUU VE QUAN TRI TINH GON CHUOI CUNG UNG TRONG LINH VUC NONG NGHIEP Hinh 1.1 thé hién pham vi thuc hién tong quan nghiên cứu của luận án. Với mục tiêu tong quan các nghiên cứu về quản trị tinh gọn chuỗi cung ứng nông nghiệp tại Việt Nam, phạm vi nghiên cứu cơ sở lý luận bao gồm các nội dung liên quan đến quản trị tỉnh gọn, chuỗi cung ứng và lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể là liên quan đến các hợp tác xã nông nghiệp. Chuỗi Quản trị cung ứng Đối tượng nghiên cứu Nông nghiệp (HTX) Hình 1.
Phạm vi thực hiện tong quan nghiên cứu Nguồn: Tác giá xây dựng Thuật ngữ “lean manufacturing” được biết đến bắt đầu từ những năm 1980 tại các doanh nghiệp. Cho đến những năm 1990, ngày càng có nhiều quan điểm cho rằng phương pháp quản trị này cần được áp dụng vượt ra khỏi phạm vi của các doanh nghiệp đơn lẻ, đặc biệt khi các nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng quản trị tinh gọn trong chuỗi cung ứng sẽ giúp các doanh nghiệp gia tăng lợi thé cạnh tranh (Cudney, 2011; Taylor, 2006; Womack, 1996). Các nguyên tắc và công cụ của quản trị tinh gon áp dụng trong chuỗi cung ứng giúp làm tăng chất lượng sản pham dich vụ, làm giảm chỉ phí, thời gian sản xuất, phân phối và số lượng hàng tồn kho trong toàn bộ chuỗi cung ứng (Wee và Wu, 2009; Eriksson, 2010; Perez, 2010). Tuy nhiên, do quản tri tinh gọn có xuất phát điểm trong lĩnh vực chế tạo tự động, các nghiên cứu về quản trị tinh gọn chuỗi cung ứng cũng được thực hiện nhiều trong lĩnh vực này, sau đó được mở rộng sang các lĩnh vực khác như xây dựng, y tẾ, khách sạn, dịch vụ công.
Trong khi đó, mới chỉ có rất Ít các nghiên cứu về quan tri tinh gon được thực hiện trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và trong chuỗi cung ứng nói riêng. Chưa đến 5% các nghiên cứu về áp dụng quản trị tỉnh gọn được thực hiện trong lĩnh vực nông nghiệp (Jasti và Kodali, 2015). Điều nay cũng được khang định trong luận án này khi chỉ có 68 tài liệu liên quan đến quản trị tỉnh gọn chuỗi cung ứng nông nghiệp được tìm thấy. Trong đó bao gồm 62 tài liệu nghiên cứu nước ngoài và chỉ có 6 tài liệu nghiên cứu tại Việt Nam.
Phân tích các nghiên cứu này cho thay ba hướng nghiên cứu chính: 1) Nghiên cứu về các lãng phí ton tại; 2) Nghiên cứu về các nhân tô ảnh hưởng đến quản trị tinh gọn chuỗi cung ứng nông nghiệp; 3) Nghiên cứu về mô hình quản trị tỉnh gọn chuỗi cung ứng nông nghiệp. Nghiên cứu về các lãng phí trong chuỗi cung ứng nông nghiệp Tìm kiếm và loại bỏ lãng phí là một trong những nguyên tắc căn bản của quản trị tỉnh gọn. Lĩnh vực nông nghiệp mang nhiều đặc điểm khác biệt về sản phẩm, quy trình sản xuất, phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như thời tiết, khí hậu, thé nhưỡng.do đó lãng phí dễ dàng xảy ra trong chuỗi cung ứng nông nghiệp hơn so với các lĩnh vực khác. Các lãng phí có thể xuất hiện ở bất cứ hoạt động nào xuyên suốt trong toàn bộ chuỗi cung ứng nông nghiệp (Wesana, 2019; Dora, 2015; FAO, 2011; Vitasek, 2005).
Lãng phí về sản xuất dư thừa được tìm thấy trong hoạt động như chế biến (Noorwali, 2013; Darlington và Rahimifard, 2006) hay ngay trong hoạt động tiêu thụ của khách hàng cuối cùng (Engelund, 2009). Các lãng phí được nhận diện trong hoạt động chế biến như sản phẩm lỗi hong (Vlachos, 2015; Folinas và đồng sự, 2015; Taylor, 2006;), công đoạn dư thừa (Sathiyabarna và Dasan, 2013; Kennedy và đồng sự, 2013; Goriwondo và đồng sự, 2011); tồn kho không chính xác (Tanco và đồng sự, 2013). Wesana (2019) cũng nghiên cứu xuyên suốt chuỗi cung ứng sữa từ hoạt động sản xuất của các hộ nông dân đến nhà phân phối và chỉ ra ba loại lãng phí lớn nhất là sản pham lỗi hỏng (làm tràn sữa trong quá trình vắt sữa, độ PH không đáp ứng trong quá trình làm sữa chua, hỏng bao bì đóng gói trong quá trình vận chuyên và phân phối.), tồn kho không chính xác (sữa dé quá lâu trong thùng mở tại các nông trại, dự trữ cho hoạt động bán hàng.), sản xuất dư thừa trong tại các nông trại và cơ sở chế biến sữa chua. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra hoạt động sản xuất chế biến, lưu trữ và tiêu thụ là những hoạt động tạo ra lãng phí nhiều nhất trong chuỗi cung ứng thực phẩm.
Abushaikha (2018) khi nghiên cứu về lưu kho tinh gon đã nhận diện các lãng phí trong hoạt động này. Theo đó, các lãng phí như sản phẩm lỗi hỏng, dòng vận chuyên bất hợp lý, lưu kho dư thừa, chờ đợi.trong các hoạt động lưu kho của doanh nghiệp từ nhận hàng, lưu trữ, chia chọn đến gửi hàng. Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ đồng thuận giữa mức độ giảm lãng phí trong hoạt động lưu kho và kết quả hoạt động vận hành kho cũng như hoạt động phân phối, từ đó có tác động gián tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trung tâm Food Chain Center tai Đại học Kinh doanh Cardiff, Anh thực hiện nghiên cứu chuỗi cung ứng rau quả tươi trong vòng hai năm từ 2007-2009 đã chỉ ra lãng phí về thời gian chờ đợi và chi phí trong chuỗi cung ứng này.
Theo đó, 95% thời gian từ lúc thu hoạch đến khi sản phẩm đến tay khách hàng bị lãng phí khi sản phẩm hoặc năm chờ, hoặc được sử dụng trong những bước không mang lại giá trị gia tang. Nếu thời gian này được giảm bớt hoặc thậm chí bị loại bỏ, thì rất nhiều chi phí kèm theo đó có thé được cắt giảm. Cũng đưa ra cùng kết quả nghiên cứu của Trung tâm Food Chain Center, Seth (2007) khi sử dụng phương pháp sơ đồ chuỗi giá trị nghiên cứu chuỗi cung ứng sản xuất dầu hạt bông cũng chỉ ra lãng phí thời gian chờ đợi là lãng phí lớn nhất trong chuỗi cung ứng này. Theo đó, trong khoảng thời gian 244 ngày từ khi cung ứng nguyên vật liệu đến khi sản phâm được cung cấp đến tay khách hàng sử dụng cuối cùng, có đến 90 ngày nguyên vật liệu năm trong kho của công ty sản xuất do lo ngại thiếu nguồn cung cấp đầu vào cho hoạt động sản xuất (chiếm tỉ lệ 36.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các lãng phí công đoạn dư thừa, không tận dụng được hết nguồn nguyên liệu (vẫn còn 6-7% 10 lượng dầu còn dư lại, không được ép hết từ hat bông). Theo nghiên cứu FAO(2011), những lãng phí lớn xảy ra trong chuỗi cung ứng nông nghiệp bao gồm sản phẩm bị hỏng, không dam bao chất lượng theo yêu cầu của khách hàng, sản phẩm chưa được thu hoạch hết. Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân gây ra những lãng phí này do kĩ thuật thu hoạch, sơ chế (như sàng lọc, làm khô, phân loại), quá trình vận chuyên, phân phối, lưu kho, trong quá trình khách hàng sử dụng, đặc biệt trong chuỗi cung ứng nông nghiệp, với các sản phẩm nông nghiệp thường rất dễ hỏng. Vitasek (2005) nhận định một loại lãng phí trong chuỗi cung ứng là lãng phí thông tin, khi các thông tin có thé được thu thập nhưng không được phục vu cho việc lập kế hoạch hoặc xây dựng chiến lược trong chuỗi cung ứng.
Zokaei (2006) nghiên cứu 09 chuỗi cung ứng thịt đỏ tại Anh và chỉ ra những lãng phí trong chuỗi cung ứng như không có tiêu chuẩn sản xuất, quy trình sản xuất không đồng bộ.1 tong hợp các lãng phí và cho thấy các nghiên cứu đã có gắng chỉ ra những lãng phí tồn tại trong chuỗi cung ứng nông nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên mới chỉ khai thác được một vài khía cạnh của lãng phí và có thé dẫn tới việc bỏ qua những lãng phí ton tại và nguyên nhân của chúng. Trong khi đó, áp dụng các công cu quản trị tinh gọn giúp loại bỏ lãng phí một cách có hệ thống (Kumar, 2006). Một số các nghiên cứu cũng đã cố gắng nhận diện các lãng phí một cách có hệ thống.
Cụ thé trong nghiên cứu của minh, Dora (2015) chi ra những lãng phí người nông dân gặp phải như sản xuất dư thừa, sự chờ đợi khi tốc độ thực hiện công việc của người nông dân khác nhau, gia công thừa (các hoạt động thừa ghi nhận trong quy trình sản xuất như phơi khô, bảo quản.), sự di chuyên thừa (vận chuyền phân bón trong khoảng thời gian quá dài trước khi sử dụng chúng), tồn kho không chính xác (hạt giống và phân bón), thao tác dư thừa, sản phẩm lỗi, kiến thức rời rạc của người nông dân (thiếu sự tham gia vào hoạt động cải tiến, hoặc kiến thức kinh nghiệm của người nông dân không được sử dụng hết). Mặc dù đã hệ thống hóa những lãng phí trong chuỗi cung ứng nông nghiệp, tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ mang tính gợi mở, dựa vào khung phân tích lý thuyết và thiếu kiểm chứng thực nghiệm tại những chuỗi cung ứng nông sản cụ thé. Nhìn nhận lang phí như là một rủi ro có thé xảy ra trong chuỗi cung ứng, Chairany và đồng sự (2022) nghiên cứu xuyên suốt các hoạt động trong chuỗi cung 11 ứng ớt đỏ của năm HTX nông nghiệp tại Indonesia. Từ đó, nghiên cứu chỉ ra các lãng phí ton tại từ hoạt động gieo hạt đến lưu kho và vận chuyền như cây trồng bị lỗi hỏng, dịch bệnh, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm do hoạt động lưu kho không đúng tiêu chuẩn.
Nghiên cứu đã thé hiện được tính hệ thống khi tìm hiểu các lãng phí xuyên suốt các hoạt động được thực hiện trong chuỗi cung ứng, tuy nhiên các lãng phí lại chưa được nhận diện hết trong các hoạt động, ví dụ như trong hoạt động vận chuyên, nghiên cứu chỉ ra ba lãng phí là phương tiện vận chuyển bị hỏng, bao bì đóng gói không đảm bảo, hang hỏng do nhiệt độ trên xe không phù hợp, nhưng chưa dé cập đến các lãng phí khác có thé xảy ra trong hoạt động vận chuyên này. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cũng đã nhận diện các lãng phí xuyên suốt trong chuỗi cung ứng nông nghiệp. Công ty CEL Consulting (2018) nghiên cứu các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam đã chỉ ra những thất thoát nông sản tập trung chủ yếu ở các hoạt động trồng trọt, chế biến, lưu kho và vận chuyên. Theo đó, đối với sản phẩm hoa quả và rau, hoạt động trồng trọt, chế biến gây ra 25% thất thoát nông sản.
Tiếp đó hoạt động lưu trữ và vận chuyền gây ra 12% thất thoát nông sản.