Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và môi trường kinh doanh nhiều biến động, quản trị rủi ro trở thành hoạt động thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh dược phẩm. Áp lực cạnh tranh buộc các tổ chức phải triệt tiêu tối đa các chi phí phát sinh ngoài ý muốn, trong đó có thiệt hại từ các sự cố kinh doanh. Tuy nhiên, tại Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp chưa dành nguồn lực tương xứng cho công tác quản trị rủi ro; hoạt động này chủ yếu mang tính tự phát, thiếu đồng bộ và thường bị đồng nhất một cách đơn giản với việc mua bảo hiểm thương mại.
Công ty Cổ phần dược phẩm Bình Lục là doanh nghiệp hoạt động đa dạng trong lĩnh vực sản xuất thuốc đông - tây y, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm và phân phối dược phẩm. Dù ban lãnh đạo đã có sự quan tâm nhất định đến việc phòng ngừa tổn thất, công tác quản trị rủi ro tại đơn vị vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa được tổ chức thành một quy trình khoa học khép kín. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Vũ Đăng Đạo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro cho công ty.
Văn bản xác định rõ các mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa lý luận chung về rủi ro và công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
- Làm rõ thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần dược Bình Lục.
- Phân tích, nhận diện các kết quả đạt được, những điểm tồn tại cùng nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong thực tế hoạt động của công ty.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong sản xuất và kinh doanh dược phẩm của doanh nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro trong sản xuất và kinh doanh dược phẩm của doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần dược Bình Lục (Tiểu khu Bình Thắng, thị trấn Bình Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thực trạng thu thập và phân tích trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014; định hướng giải pháp và chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các quan điểm học thuật đã được công bố:
- Khái niệm rủi ro: Trích dẫn quan điểm của Allan Willett (1995) trong tác phẩm Risk and Insurance định nghĩa "rủi ro là bất trắc cụ thể đến một biến cố không mong đợi" và quan điểm của Nguyễn Hữu Thân (1991) trong Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh xác định rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, thiệt hại. Tác giả tổng hợp rủi ro là những biến cố bất lợi, ngoài mong đợi, gây tổn thất về tài sản, tinh thần hoặc nhân lực.
- Khái niệm và chu trình quản trị rủi ro: Quản trị rủi ro được định nghĩa là một quá trình tiếp cận có hệ thống, toàn diện và khoa học nhằm nhận dạng, phân tích, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro. Khung tiến trình gồm 5 nội dung liên hoàn: (1) Nhận dạng rủi ro, (2) Phân tích rủi ro, (3) Đo lường rủi ro, (4) Kiểm soát rủi ro, (5) Tài trợ rủi ro.
- Nguyên tắc quản trị rủi ro: Phải hướng vào mục tiêu của tổ chức; phải gắn liền với trách nhiệm của nhà quản trị; phải gắn kết toàn diện với toàn bộ hệ thống tổ chức.
- Phân loại rủi ro: Tiếp cận theo nguồn gốc phát sinh gồm rủi ro bên trong (tổ chức quản lý, chiến lược, tài chính, tài sản, nhân lực, thương hiệu) và rủi ro bên ngoài (kinh tế, chính trị, pháp luật, tự nhiên, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác các báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, tài liệu lưu trữ nội bộ giai đoạn 2012 - 2014 từ Phòng Kinh doanh, Phòng Kế hoạch, Phòng Kế toán - Tài chính, Phòng Kỹ thuật của công ty; kết hợp tư liệu ngành trên Tạp chí Doanh nghiệp Thương mại.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Điều tra bảng hỏi trắc nghiệm: Sử dụng phiếu khảo sát gồm 10 câu hỏi chia thành 2 phần (Quan điểm về quản trị rủi ro; Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tại công ty). Số phiếu phát ra là 10, thu về 10 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%), đối tượng là cán bộ công nhân viên (CBCNV).
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Thiết lập bảng câu hỏi gồm 8 câu hỏi mở phỏng vấn trực tiếp ban lãnh đạo và các nhà quản trị của công ty (trong đó có Giám đốc) để làm rõ thực trạng các sự cố kinh doanh và quan điểm điều hành.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh chuỗi dữ liệu tổn thất và tần suất rủi ro qua các năm để rút ra kết luận thực nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro của doanh nghiệp
Chương này tập trung diễn giải hệ thống khái niệm, vai trò, nguyên tắc và nội dung của quản trị rủi ro trong doanh nghiệp. Về vai trò, quản trị rủi ro giúp tổ chức đạt mục tiêu kinh doanh, cắt giảm chi phí tổn thất trực tiếp và gián tiếp, nắm bắt cơ hội, gia tăng uy tín và tạo nền tảng vững chắc cho các quyết định đầu tư mang tính mạo hiểm có tính toán.
Tác giả đi sâu vào 5 mắt xích cấu thành quy trình quản trị rủi ro:
- Nhận dạng rủi ro: Xác định liên tục nguồn gốc, đối tượng và dạng tổn thất thông qua các công cụ như bảng kiểm tra (checklist), phân tích báo cáo tài chính, thanh tra hiện trường và nghiên cứu hợp đồng.
- Phân tích rủi ro: Đánh giá các mối hiểm họa, phân tích nguyên nhân chủ quan (sai lầm chiến lược, thiếu hụt thông tin) và khách quan (môi trường kinh doanh, tự nhiên), dự báo các tổn thất tiềm ẩn.
- Đo lường rủi ro: Xác định mức độ nghiêm trọng bằng quy mô tổn thất tiền tệ, tần suất xuất hiện và tổng chi phí rủi ro; sử dụng các phương pháp đo lường trực tiếp, gián tiếp, định tính chuyên gia và dự báo xác suất thống kê.
- Kiểm soát rủi ro: Triển khai các kỹ thuật né tránh rủi ro, ngăn ngừa nhằm giảm tần suất, giảm thiểu mức độ nghiêm trọng (khoanh vùng, lập kế hoạch ứng phó), chuyển giao rủi ro và đa dạng hóa hoạt động.
- Tài trợ rủi ro: Cung cấp nguồn lực bù đắp thiệt hại thông qua tự khắc phục (chủ động lập quỹ dự phòng hoặc bị động chịu tổn thất) và chuyển giao tài chính qua hợp đồng bảo hiểm.
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro gồm yếu tố khách quan (chính trị, pháp lý, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, xã hội) và yếu tố chủ quan (năng lực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, nhận thức của lãnh đạo và nhân viên).
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần dược Bình Lục
Chương 2 khái quát về lịch sử hình thành và thực trạng tổ chức tại Công ty Cổ phần dược Bình Lục (tiền thân thành lập năm 1995, cổ phần hóa năm 1997, chính thức vận hành mô hình mới từ năm 2003). Doanh nghiệp sở hữu khuôn viên gần 6 ha, sản xuất và phân phối trên 200 mặt hàng dược phẩm (như Good man New, Q-thymodulin, Khang linh đơn, Meraginp, Zinc Glu...), TPCN và mỹ phẩm. Bộ máy tổ chức do Giám đốc điều hành, hỗ trợ bởi 2 Phó Giám đốc (kinh doanh, sản xuất), 6 phòng chức năng và 2 phân xưởng (Phân xưởng Bào chế tổng hợp đạt chuẩn GMP và Phân xưởng Đông dược). Tổng nhân sự gồm 204 người, trong đó có 32 người có trình độ Đại học Dược và đại học khác.
Về kết quả kinh doanh 2012 - 2014, lợi nhuận trước thuế có sự biến động: tăng từ năm 2012 đến 2013 nhưng sụt giảm trong giai đoạn 2013 - 2014 (lợi nhuận sau thuế năm 2012 đạt 54.852 nghìn đồng). Nguyên nhân sụt giảm do tác động kinh tế vĩ mô và sự vận hành kém hiệu quả của bộ máy nội bộ (xuất hiện nhiều khâu trùng lặp, thao tác thừa).
Kết quả điều tra sơ cấp (n = 10) phản ánh:
- 100% người được hỏi cho rằng quản trị rủi ro là rất quan trọng, song 60% chưa nhận thức được hành vi cá nhân của mình có thể gây tổn thất cho công ty; 100% quy kết nguyên nhân rủi ro là do môi trường kinh doanh bất lợi.
- Đánh giá mức độ quan trọng giữa các mắt xích quản trị rủi ro cho thấy sự lệch lạc trong nhận thức:
| Mắt xích trong quy trình |
Điểm đánh giá trung bình |
Thứ tự quan trọng |
| Nhận dạng rủi ro |
3.3 |
3 |
| Phân tích rủi ro |
3.6 |
4 |
| Đánh giá và đo lường rủi ro |
2.1 |
2 |
| Kiểm soát và tài trợ rủi ro |
1.4 |
1 |
- Về thực trạng triển khai: 70% đánh giá hoạt động quản trị rủi ro của công ty ở mức bình thường, 20% đánh giá tốt, 10% đánh giá không tốt. 100% khẳng định công ty chưa có quy trình quản trị rủi ro chuẩn hóa; công tác nhận dạng rủi ro cụ thể chưa được thực hiện mà công ty chủ yếu nhảy vào khâu kiểm soát và tài trợ (70%).
- Khảo sát các điểm yếu kém nội bộ:
| Nội dung yếu kém |
Điểm đánh giá trung bình |
Thứ tự ưu tiên |
| Nhận thức, thái độ của nhà quản trị và CBCNV |
1.4 |
1 |
| Khả năng tài chính |
2.0 |
2 |
| Điều kiện kỹ thuật công nghệ |
2.1 |
3 |
| Khả năng ứng phó điều kiện tự nhiên |
2.4 |
4 |
Kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp (2012 - 2014) ghi nhận các rủi ro cụ thể:
- Năm 2014, đối tác là Công ty Dược Thành Công rút vốn trong giai đoạn thử nghiệm sản phẩm mới làm đình trệ tiến độ R&D; hàng loạt cán bộ quản lý có năng lực xin nghỉ việc gây xáo trộn dây chuyền sản xuất.
- Đầu năm 2015, dòng sản phẩm chăm sóc da mới ra mắt bị Công ty Dược Nam Cao khởi kiện do trùng tên thương hiệu.
Bảng thống kê số lần phát sinh rủi ro tại công ty giai đoạn 2012 - 2014:
| Danh mục rủi ro |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
Tổng số lần |
| Rủi ro trong quá trình vận chuyển |
4 |
3 |
2 |
9 |
| Rủi ro hàng hóa bị hỏng |
5 |
8 |
7 |
20 |
| Rủi ro do sự phá sản của nhà cung ứng |
2 |
4 |
5 |
11 |
| Rủi ro thanh toán, tỷ giá |
3 |
2 |
2 |
7 |
| Rủi ro mất khách hàng, thị trường |
1 |
3 |
2 |
6 |
| Rủi ro liên quan đến chính sách pháp luật |
1 |
0 |
0 |
1 |
| Rủi ro nhân viên nghỉ việc mang theo dữ liệu khách hàng |
1 |
1 |
0 |
2 |
Đo lường thiệt hại tài chính qua bảng tổn thất:
| Đối tượng tổn thất |
Năm 2012 (Triệu đồng) |
Năm 2013 (Triệu đồng) |
Năm 2014 (Triệu đồng) |
| Chi phí trong quá trình vận chuyển |
80,3 |
126,0 |
103,5 |
| Hàng hóa bị hỏng |
106,2 |
137,1 |
110,4 |
| Sự phá sản của nhà cung ứng |
90,5 |
108,6 |
97,0 |
| Thanh toán, tỷ giá |
70,2 |
79,5 |
81,4 |
| Mất khách hàng, thị trường |
105,6 |
123,1 |
119,2 |
| Chi phí liên quan đến chính sách pháp luật |
0,0 |
65,1 |
0,0 |
| Tổng giá trị tổn thất |
452,8 |
639,4 |
511,5 |
Đánh giá ma trận tần số và biên độ rủi ro qua các năm:
| Năm |
Tần số rủi ro |
Biên độ rủi ro |
| 2012 |
Thấp |
Thấp |
| 2013 |
Cao |
Cao |
| 2014 |
Thấp |
Cao |
Tác giả rút ra kết luận: Công ty đạt được một số kết quả như mua bảo hiểm cho người lao động, nhà xưởng và hàng hóa; huy động vốn từ nhiều nguồn để phân tán rủi ro; nâng cấp trang thiết bị. Tuy nhiên, tồn tại hạn chế lớn là chưa có bộ phận chuyên trách (đang giao khoán cho Phòng Kinh doanh kiêm nhiệm), thiếu cán bộ có chuyên môn sâu về Dược và quản trị rủi ro; kho bãi chưa đồng bộ; phương tiện vận chuyển phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài dẫn đến tỷ lệ hư hỏng hàng hóa cao (chiếm tổn thất lớn nhất với 137,1 triệu đồng năm 2013). Quy trình quản trị rủi ro bị thực hiện thụ động, chỉ ứng phó khi sự cố đã xảy ra.
Chương 3: Một số đề xuất và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị rủi ro của Công ty Cổ phần dược Bình Lục
Dựa trên mục tiêu kế hoạch giai đoạn 2014 - 2016 và bối cảnh hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO, chương 3 đưa ra các nhóm giải pháp:
- Thiết lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro: Thành lập một đơn vị độc lập chịu trách nhiệm nghiên cứu, thiết lập và vận hành quy trình quản trị rủi ro toàn diện trong công ty.
- Hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro đồng bộ:
- Nhận dạng rủi ro: Áp dụng bảng câu hỏi điều tra định kỳ đối với cán bộ - công nhân viên; thường xuyên phân tích báo cáo tài sản, báo cáo hao mòn của các phòng ban; tận dụng thông tin phản hồi từ khách hàng và đối tác.
- Phân tích rủi ro: Xác định rõ các mối hiểm họa, nguyên nhân gây lỗi hỏng trong vận hành và điều kiện sản xuất.
- Đo lường rủi ro: Thiết lập ma trận đánh giá tần số và biên độ tổn thất cho từng danh mục rủi ro nhằm xác định thứ tự ưu tiên phân bổ nguồn lực.
- Kiểm soát rủi ro: Đào tạo nâng cao tay nghề cho công nhân vận hành máy móc GMP; nâng cao năng lực giám sát kỹ thuật; phân tán rủi ro thông qua việc sàng lọc đối tác hợp tác kinh doanh và điều khoản hợp đồng chặt chẽ.
- Tài trợ rủi ro: Trích lập quỹ dự phòng rủi ro thường niên từ lợi nhuận hoặc chi phí hoạt động; duy trì và mở rộng hợp đồng bảo hiểm hàng hóa có giá trị lớn hoặc vận chuyển đường dài; xây dựng cơ chế san sẻ tổn thất với đối tác cung ứng.
- Các nhóm kiến nghị bổ trợ:
- Nâng cao công tác vận chuyển, kho vận: Lựa chọn đối tác vận tải đủ tiêu chuẩn kỹ thuật bảo quản thuốc; kiểm tra nghiêm ngặt quy cách phẩm chất khi xuất nhập kho; quản lý kỳ hạn công nợ khách hàng để tránh đọng vốn.
- Về nguồn vốn: Xây dựng chính sách huy động vốn linh hoạt để kịp thời thu mua nguyên liệu giá rẻ và nhập khẩu máy móc hiện đại.
- Về nhân lực: Đào tạo định kỳ, trẻ hóa đội ngũ quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn ngành Dược cho cán bộ trực tiếp điều hành.
- Về nghiên cứu thị trường và chiến lược: Xác định rõ phân khúc thị trường mục tiêu, lập kế hoạch dự trữ thuốc hợp lý, tra cứu kỹ lưỡng quyền sở hữu công nghiệp trước khi đưa nhãn hiệu sản phẩm mới ra thị trường.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả thực nghiệm: Phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần dược Bình Lục giai đoạn 2012 - 2014. Xác định rủi ro hàng hóa bị hỏng là dạng sự cố xuất hiện nhiều nhất (20 vụ trong 3 năm) và gây tổn thất tài chính nặng nề nhất (tổng thiệt hại năm 2013 lên tới 137,1 triệu đồng). Tổng tổn thất do rủi ro của công ty đạt đỉnh 639,4 triệu đồng năm 2013 trước khi giảm xuống 511,5 triệu đồng năm 2014.
- Hệ thống giải pháp: Đề xuất một mô hình quản trị rủi ro 5 bước hoàn chỉnh, giải quyết điểm nghẽn về việc thiếu bộ phận chuyên trách và tháo gỡ sự phụ thuộc thụ động vào bảo hiểm thương mại.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận khắc phục khoảng trống nghiên cứu tại thời điểm thực hiện. Theo tổng quan của tác giả, các công trình nghiên cứu trước đó tại Trường Đại học Thương Mại (như đề tài của Vũ Thị Ngọc năm 2008, Nguyễn Thị Minh Thảo năm 2011, Phạm Thị Đào Hảo năm 2011) hầu như chỉ tập trung vào rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Đề tài của tác giả là công trình khảo sát đầu tiên về quản trị rủi ro tiếp cận theo tiến trình liên tục áp dụng riêng cho ngành sản xuất và kinh doanh dược phẩm, gắn trực tiếp với dữ liệu hoạt động của Công ty Cổ phần dược Bình Lục.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Quy mô mẫu điều tra sơ cấp còn nhỏ (chỉ tiến hành khảo sát 10 cán bộ công nhân viên và phỏng vấn một số nhà quản trị nội bộ).
- Dữ liệu thực nghiệm tập trung tại một doanh nghiệp quy mô địa phương ở tỉnh Hà Nam trong giai đoạn 2012 - 2014, chưa có sự đối chiếu so sánh với các doanh nghiệp dược phẩm khác trong ngành.
- Các thiệt hại phi tài chính (như sự suy giảm uy tín thương hiệu do kiện tụng nhãn hiệu hay việc nhà đầu tư rút vốn) chưa được mô hình hóa bằng các công cụ toán kinh tế phức tạp.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên phạm vi nghiên cứu, các công trình tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh dược phẩm trên phạm vi toàn quốc và xây dựng hệ thống chỉ tiêu lượng hóa chi tiết cho các rủi ro phi tài sản.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Kinh tế thương mại: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cụ thể về cách tiếp cận quy trình quản trị rủi ro 5 bước và phương pháp kết hợp số liệu sơ cấp (khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn sâu) với số liệu thứ cấp (báo cáo tài chính, thống kê tổn thất).
- Các nhà quản lý doanh nghiệp dược phẩm vừa và nhỏ: Cung cấp mô hình tham chiếu thực tế để nhận diện các rủi ro đặc thù trong chuỗi cung ứng dược phẩm (vận chuyển, hỏng thuốc, phá sản nhà cung ứng, tranh chấp thương hiệu) và cách lập bảng đo lường tổn thất, ma trận tần số - biên độ rủi ro.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận sử dụng các định nghĩa và nguyên tắc quản trị rủi ro nào làm nền tảng?
Tác giả kế thừa định nghĩa rủi ro của Allan Willett (1995) và Nguyễn Hữu Thân (1991), nhìn nhận rủi ro là các biến cố bất trắc gây mất mát, thiệt hại. Quản trị rủi ro được định nghĩa là chu trình khoa học gồm 5 bước liên hoàn (nhận dạng, phân tích, đo lường, kiểm soát, tài trợ) và tuân thủ 3 nguyên tắc cốt lõi: hướng vào mục tiêu của tổ chức, gắn với trách nhiệm của nhà quản trị, và gắn kết toàn bộ tổ chức.
Quy mô nhân sự và cơ cấu quản lý của Công ty Cổ phần dược Bình Lục được mô tả ra sao?
Doanh nghiệp có tổng số 204 nhân sự, trong đó có 32 người đạt trình độ Đại học Dược và các trình độ đại học khác. Cơ cấu quản lý gồm Ban Giám đốc (1 Giám đốc đại diện pháp luật, 2 Phó Giám đốc phụ trách sản xuất và kinh doanh), 6 phòng ban chức năng (Tổ chức hành chính, Kinh doanh, Kế toán tài chính, Điều hành sản xuất, Kiểm tra chất lượng, Cơ điện) cùng 2 đơn vị sản xuất trực tiếp là Phân xưởng Bào chế tổng hợp (đạt chuẩn GMP) và Phân xưởng Đông dược.
Dạng rủi ro nào phát sinh nhiều nhất và gây tổn thất lớn nhất cho công ty trong giai đoạn 2012 - 2014?
Rủi ro hàng hóa bị hỏng phát sinh nhiều nhất với tổng cộng 20 lần (5 lần năm 2012; 8 lần năm 2013; 7 lần năm 2014). Đây cũng là nhóm gây thiệt hại tài chính lớn nhất, với chi phí tổn thất năm 2012 là 106,2 triệu đồng, năm 2013 là 137,1 triệu đồng và năm 2014 là 110,4 triệu đồng.
Những tồn tại nổi cộm nhất trong công tác quản trị rủi ro tại doanh nghiệp được chỉ ra là gì?
Công ty chưa thành lập bộ phận chuyên trách mà giao phó cho Phòng Kinh doanh kiêm nhiệm; chưa xây dựng quy trình quản trị rủi ro đồng bộ mà chủ yếu xử lý thụ động sau sự cố; phương tiện vận chuyển phụ thuộc hoàn toàn vào dịch vụ thuê ngoài làm tăng nguy cơ hư hỏng thuốc; nhận thức của cán bộ công nhân viên về rủi ro còn yếu kém (60% người khảo sát không nhận thấy hành vi cá nhân ảnh hưởng đến rủi ro của công ty).
Tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nào nhằm hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro tại công ty?
Tác giả đề xuất thành lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro; chuẩn hóa quy trình 5 bước (nhận dạng qua bảng hỏi và báo cáo; phân tích nguyên nhân; đo lường bằng ma trận tần số - biên độ; kiểm soát qua đào tạo công nhân và kiểm tra kỹ thuật; tài trợ qua quỹ dự phòng và bảo hiểm hàng hóa); đồng thời nâng cấp quy trình logistics, tuyển dụng nhân sự có trình độ Dược cao cấp và nghiên cứu kỹ thị trường trước khi phát triển thương hiệu mới.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vũ Đăng Đạo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro và phản ánh chi tiết thực trạng kiểm soát rủi ro trong sản xuất - kinh doanh tại Công ty Cổ phần dược Bình Lục giai đoạn 2012 - 2014. Qua việc kết hợp phương pháp điều tra sơ cấp và phân tích số liệu tài chính thứ cấp, công trình chỉ rõ những tổn thất thực tế và các lỗ hổng vận hành trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ từ khâu lập bộ phận chuyên trách đến chuẩn hóa quy trình 5 bước, đóng góp một tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản trị rủi ro trong ngành dược phẩm.