CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÃ THỰC HIỆN CHO ĐẾN NAY 1.1 Giới thiệu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Qua quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, các website cho thấy, bắt đầu từ năm 2005 đến nay, có một số công trình nghiên cứu liên quan ít nhiều đến quản trị rủi ro cho thuê tài chính, có thể kể đến một số công trình như sau: - Luận văn thạc sỹ + Phạm Duy Hiếu, 2005, Luận văn thạc sỹ, Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. + Nguyễn Đức Hùng, 2006, Luận văn thạc sỹ, Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thương Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. + Nguyễn Thanh Nga, 2006, Luận văn thạc sỹ, Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. + Nguyễn Xuân Bình, 2007, Luận văn thạc sỹ, Quản trị rủi ro tại Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân + Mai Thị Ngọc Hà, 2007, Luận văn thạc sỹ, Tăng cường quản trị rủi ro tại Công ty Cho thuê tài chính – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
- Đề tài nghiên cứu khoa học: + International Finance Corporation – World Bank Group, Báo cáo khoa học "Leasing in Development” phát hành năm 2009 6 + Susan S.Lee, Báo cáo khoa học " Capital and operating leases” 10/2003 - Giáo trình + Giáo trình: “Tìm hiểu và sử dụng thị trường tín dụng thuê mua ” của tác giả Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1996 + Giáo trình: “Nghiệp vụ Ngân hàng” của tác giả Tiến sỹ Nguyễn Minh Kiều – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, do nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 2008 1.2 Phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu Đề tài: “Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” của tác giả Phạm Duy Hiếu bảo vệ luận văn thạc sỹ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2005. Nội dung đề tài tập trung vào nghiên cứu thực trạng rủi ro tại Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và đề xuất các biện pháp hạn chế rủi ro nhằm phát triển hoạt động cho thuê tài chính hiệu quả hơn. Đề tài: “Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thương Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Hùng bảo vệ luận văn thạc sỹ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2006. Luận văn lựa chọn nghiên cứu quy trình quản lý rủi ro ro và phân tích ưu nhược điểm đồng thời đề xuất biện pháp hoàn tăng cườn hoạt động này tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thương Việt Nam Đề tài: “Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Nga bảo vệ luận văn thạc sỹ tại trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2006.
Luận văn cũng lựa chọn đề tài rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính nhưng thực hiện tại Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam. Đề tài Cho thuê tài chính cũng được đề cập đến trong một số giáo trình về tài chính ngân hàng đã xuất bản gần đây như: 7 Giáo trình: “Nghiệp vụ Ngân hàng” của tác giả Tiến sỹ Nguyễn Minh Kiều – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, do nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 2008. Giáo trình này đã trình bày các nội dung cơ bản về hoạt động cho thuê tài chính nhằm cung cấp cho độc giả những kiến thức chung và loại hình nghiệp vụ còn mới mẻ này. Giáo trình: “Tìm hiểu và sử dụng thị trường tín dụng thuê mua ” của tác giả Trần Tô Tử và Nguyễn Hải Sản - Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1996 tập trung vào nghiên c ứu các nội dung của tín dụng cho thuê tài chính (còn gọi là tín dụng thuê mua), phân tích những đặc điểm và lợi ích khi sử dụng hình thức huy động vốn trung và dài hạn này trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu một số đề tài nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài về hoạt động cho thuê tài chính bao gồm: Báo cáo khoa học: “Leasing in Development” do International Finance Corporation – World Bank Group phát hành năm 2009. Báo cáo này nghiên cứu những nội dung cơ bản của hoạt động cho thuê tài chính và việc áp dụng cho thuê tài chính trong phát triển sản xuất kinh doanh đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Báo cáo khoa học: “Capital and operating leases” của tác giả Susan S.Lee thuộc Hiệp hội tư vấn các chuẩn mực kế toán phát hành tháng 10/2003 trong đó tập trung nghiên cứu và so sánh hai loại hình cho thuê là cho thuê tài chính và cho thuê vận hành. Những công trình, đề tài nêu trên phân tích chủ yếu về hoạt động cho thuê tài chính và rủi ro đặc biệt cách quản trị rủi ro tại các Công ty cho thuê tài chính của một số ngân hàng như: Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Công thương Việt Nam, Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào lựa chọn quản trị rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính I – Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam làm đề tài 8 nghiên cứu. Xuất phát từ quan điểm rằng khoa học vừa mang tính kế thừa, vừa mang tính mới mẻ, các công trình nghiên cứu trên đây là những tài liệu rất bổ ích để tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sỹ này. Có thể nói, đây là luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu về đề tài: Hoàn thiện quản trị rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại Công ty Cho thuê tài chính I – Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. 9 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 2.1 Lý luận chung về hoạt động cho thuê tài chính 2.1 Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính 2.1 Khái niệm Phương thức cho thuê tài chính được “du nhập” từ nước ngoài, vì vậy thuật ngữ “Cho thuê tài chính” tiếng Anh là “Finance Lease” (một số tài liệu gọi là “Net Lease” hay “Capital Lease”) Trong tiếng Anh: “Finance” nghĩa là tài chính hay tài trợ, còn “Lease” nghĩa là cho thuê nên có thể dịch là: Cho thuê tài chính, tài trợ thuê mua, cho thuê tư bản hay cho thuê thuần… Từ “Tài chính” trong thuật ngữ “Cho thuê tài chính” xuất phát từ thực tế là: Người cho thuê tuy sở hữu thiết bị về mặt pháp lý nhưng lại đứng vào vị thế kinh tế của một nhà tài chính (hay nhà cấp tín dụng với thuật ngữ “Tín dụng thuê mua”) hơn là người sở hữu.
Tách biệt quyền sở hữu pháp lý với quyền sở hữu kinh tế là tinh thần cơ bản của cho thuê tài chính. Tuy nhiên vấn đề thuật ngữ không đóng vai trò quá quan trọng mà điều quan trọng là cần phải hiểu đúng và chính xác bản chất của sự việc. Để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, luận văn sẽ thống nhất sử dụng thuật ngữ Cho thuê tài chính theo như các văn bản pháp luật của Việt Nam hiện nay. Ở Việt Nam, Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ về “Tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính” có nêu lên khái niệm cho thuê tài chính như sau: “Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê.
Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận. 10 Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.2 Đặc điểm Một giao dịch được coi là cho thuê tài chính nếu như nó chuyển gần như tất cả mọi rủi ro và lợi ích từ việc sở hữu tài sản cho người thuê.
Như vậy, người thuê tuy không phải là chủ sở hữu về mặt pháp lý nhưng thực sự chịu mọi rủi ro và hưởng mọi lợi ích từ việc sử dụng tài sản (người thuê chỉ nắm quyền sở hữu kinh tế, còn quyền sở hữu pháp lý vẫn thuộc người cho thuê). Loại thuê này thường không thể huỷ bỏ nhằm đảm bảo cho người cho thuê có thể thu hồi vốn và lãi đối với số vốn cho vay. Sau khi đã thu hồi được vốn và lãi rồi thì quyền sở hữu pháp lý sẽ dễ dàng chuyển sang cho người thuê. Điều này giải thích tại sao giá mua tài sản khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính chỉ có ý nghĩa tượng trưng.
Trên thực tế người thuê sẽ nhận thấy rằng lợi ích thu được trong quá trình sản xuất không phải từ việc sở hữu tài sản mà là từ việc sử dụng tài sản. Do đó, phương án thuê tài chính là một giải pháp tín dụng thay thế cho việc vay vốn ngân hàng để mua tài sản. Hiện nay phần lớn các nước đưa ra các tiêu chuẩn dựa trên các tiêu chuẩn mà Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế đã quy định để xác định một giao dịch được gọi là thuê tài chính.