phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính TNHH MTV NHTMCP Công Thƣơng Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro trong hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính TNHH MTV NHTMCP Công Thƣơng Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Cho thuê tài chính là một trong các hình thức cấp tín dụng phổ biến trên thế giới.
Đƣợc đánh giá là kênh dẫn vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp muốn đầu tƣ vào máy móc, trang thiết bị để đổi mới công nghệ. Trên thế giới hiện nay, quy mô hoạt động cho thuê tài chính đã ra đời từ lâu nhƣng tại thị trƣờng Việt Nam còn khá non trẻ. Nguồn gốc hình thành và phát triển hoạt động cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê tài chính đã xuất hiện hàng nghìn năm trƣớc công nguyên ở những nƣớc có nền văn minh cổ đại nhƣ Ai Cập, Hy Lạp, La Mã dƣới hình thức cho thuê tài sản. Giao dịch cho thuê tài sản đầu tiên ra đời gắn với việc cho thuê công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, ruộng đất, nhà cửa.
Ngƣời Hy Lạp cổ đại là những ngƣời đầu tiên phát triển việc cho thuê hầm mỏ, đồng thời cũng tiên phong tạo ra hình thức ngân hàng cho thuê với hoạt động chủ yếu là cho thuê các tài sản thuộc quyền sở hữu của ngân hàng đó. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế hàng hóa, hoạt động cho thuê tài sản đã có những thay đổi về tính chất giao dịch và xuất hiện những hình thức cho thuê tài chính đầu tiên. Trƣớc nhu cầu phát triển các tuyến đƣờng sắt riêng cho mình của các công ty đƣờng sắt, nhiều nhà đầu tƣ đã góp tiền mua xe lửa từ nhà sản xuất và cho thuê lại. Các thiết bị sẽ đƣợc chuyển giao cho công ty đƣờng sắt sau khi các công ty này cam kết trả tiền nhà đầu tƣ.
Ngƣời cho thuê sẽ nắm quyền sở hữu tài sản, chỉ chuyển cho ngƣời thuê quyền sử dụng tài sản và hàng kỳ sẽ nhận đƣợc khoản tiền thuê tính dựa trên giá mua và lãi. Những năm giữa thế kỷ XX, hoạt động cho thuê đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ về chủng loại thiết bị cho thuê, đồng thời cũng đã bắt đầu phân ra thành cho thuê ngắn hạn (cho thuê vận hành ngày nay) và cho thuê dài hạn (tiền thân của cho thuê 5 tài chính). Năm 1952,Công ty cho thuê tài chính độc lập đầu tiên trên thế giới: United State Leasing Corp ra đời đã đánh dấu một bƣớc phát triển vƣợt bậc của loại hình dịch vụ tài chính này. Sau đó, hàng loạt các công ty cho thuê tài chính khác cũng đã nối gót ra đời nhƣBoothe Leasing Corp, General Electric Credit Corp… Cùng với sự phát triển của thị trƣờng tài chính, dịch vụ cho thuê tài chính ngày càng lan rộng tầm ảnh hƣởng.
Đến thập niên 80 của thế kỷ XX, dịch vụ cho thuê tài chính đã đƣợc chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, đến năm 1995, cùng với sự gia tăng nhu cầu vốn đầu tƣ trung và dài hạn, nghiệp vụ cho thuê tài chính bắt đầu đƣợc tổ chức thực hiện dƣới hình thức tín dụng thuê mua. Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc đã ra quyết định số 149/QĐ-NHNN ngày 27/05/1995, theo đó, các tổ chức tín dụng đƣợc thành lập công ty trực thuộc hoặc phòng Tín dụng thuê mua để quản lý và giám sát hoạt động tín dụng thuê mua. Ngày 09/10/1995, Nghị định 64/CP quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam đã đƣợc ban hành.
Những văn bản pháp lý này là cơ sở định hƣớng, hƣớng dẫn và cơ sở pháp lý để các ngân hàng thƣơng mại thành lập thí điểm các phòng tín dụng thuê mua hoặc các công ty thuê mua trực thuộc nhằm khởi tạo và từng bƣớc nắm bắt loại hình dịch vụ tài chínhnày. Tuy nhiên, mặc dù công ty cho thuê tài chính đầu tiên đƣợc thành lập ở Việt Nam vào năm 1996 và hoạt động cho thuê cũng đã manh nha ở các ngân hàng thƣơng mại trƣớc đó nhƣng mãi đến khi Chính Phủ ban hành Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chínhvào ngày 02/05/2001 thì hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam mới thực sự đƣợc hình thành. Nghị định này ra đời đã thực sự tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính cũng nhƣ việc thành lập và đi vào hoạt động của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Để khắc phục một số bất cập và hạn chế và để bám sát với tình hình thực tiễn, Chính phủ cũng đã tiếp tục ban hành Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 và Nghị định số 95/2008/NĐ-CP nhằm sửa đổi và bổ sung một số điều về Nghị định 16/2001/NĐ-CP.
Để các văn bản của Chính Phủ, NHNN thực sự là hành lang pháp lý, dẫn dắt hoạt động của các 6 Công ty Cho thuê tài chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 về việc tổ chức hoạt động của các Công ty tài chính và Công ty Cho thuê tài chính, văn bản này đã thay thế toàn bộ các văn bản trên. Công ty cho thuê tài chính cũng là một tổ chức tín dụng nên hoạt động của công ty cho thuê tài chính cũng đồng thời phải tuân thủ theo Luật các tổ chức tín dụng hiện hành và các văn bản hƣớng dẫn thi hành luật, các văn bản của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam có liên quan đến hoạt động của các tổ chức tín dụng.Hệ thống pháp luật về cho thuê tài chính đã không ngừng đƣợc hoàn thiện, đổi mới, tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam. Sau một chặng đƣờng hơn 20 năm phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam, các Công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt. Thời điểm phát triển nhất có 13 Công ty cho thuê tài chính cùng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Tuy nhiên, tính đến nay chỉ còn 8 đơn vị là: Công ty CTTC Nông nghiệp I, Công ty CTTC Nông nghiệp II, Công ty CTTC Đầu tƣ, Công ty CTTC Công thƣơng, Công ty CTTC Ngoại thƣơng, Công ty CTTC Á Châu, Công ty CTTC Sài Gòn Thƣơng Tín, Công ty CTTC Vinashin. Trong đó, 05 Công ty hoạt động bình thƣờng và có lãi (Công ty CTTC Đầu tƣ, Công ty CTTC Công thƣơng, Công ty CTTC Ngoại thƣơng, Công ty CTTC Á Châu, Công ty CTTC Sài Gòn Thƣơng Tín), 03 Công ty trong diện cơ cấu lại theo chỉ đạo của NHNN: Công ty CTTC Nông nghiệp I, Công ty CTTC Vinashin đang chờ quyết định của NHNN về phƣơng án cơ cấu lại, Công ty CTTC Nông nghiệp II đang chờ quyết định của Tòa án cho phép phá sản theo luật định. Quan điểm và đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính 1. Quan điểm về cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê tài chính đã ra đời, tồn tại và phát triển trong một thời gian khá dài, song trên thực tế vẫn chƣa có một khái niệm, định nghĩa hay hệ thống tiêu chuẩn chung nào đƣợc tất cả các quốc gia chấp nhận một cách chính thức.
Hiện nay trên thế giới, mỗi quốc gia khác nhau có quan điểm khác nhau về cho thuê tài chính. Căn cứ Nghị định số 39/2014/NĐ-NHNN ngày 07/05/2014 của Chính Phủ về 7 hoạt động của Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính, mục 7 điều 3: “Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính với bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính cam kết mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và năm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời gian cho thuê. Bên thuê tài chính sử dụng tài sản thuê tài chính và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê quy định trong hợp đồng cho thuê tài chính” 1.Đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính Theo Uỷ ban Tiêu chuẩn Kế toán quốc tế (IASC), bất cứ một giao dịch thuê mƣớn nào thoả mãn một trong 4 tiêu thức sau đây sẽ đƣợc coi là giao dịch cho thuê tài chính: - Quyền sở hữu tài sản thuê đƣợc chuyển giao khi kết thúc hợp đồng.
- Hợp đồng quy định quyền chọn mua tài sản thuê với giá tƣợng trƣng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng. - Thời hạn hợp đồng chiếm phần lớn thời hạn hữu dụng của tài sản. - Hiện giá của toàn bộ các khoản tiền thuê do ngƣời thuê trả tƣơng đƣơng hoặc lớn hơn giá thị trƣờng của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng. Ở Việt Nam, căn cứ Luật các tổ chức tín dụng 2010, điều 113 “Hoạt động cho thuê tài chính” quy định: hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây: - Khi kết thúc thời hạn thuê theo hợp đồng, bên thuê đƣợc chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc đƣợc tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên.
- Nội dung hợp đồng có quy định: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê đƣợc quyền chọn mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại. - Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê. - Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê phải tƣơng 8 đƣơng với giá của tài sản đó trên thị trƣờng vào thời điểm ký kết hợp đồng. Nếu xét một cách chi tiết thì hệ thống các tiêu chuẩn nhận dạng cho thuê tài chính của các tổ chức, quốc gia đƣa ra là không giống nhau.
Tuy nhiên, có thể tóm tắt đặc điểm của cho thuê tài chính nhƣ sau: - Một là, hợp đồng cho thuê có bao hàm quyền mua lại tài sản với giá danh nghĩa vào cuối thời hạn thuê.