Chương 1 :Tổng quan về quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng Thương mại - Chương 2 : Thực trạng về hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất tại NHTMCP Nam Á (2008 – 2012) - Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro lãi suất tại NHTMCP Nam Á 123doc 3 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro lãi suất 1.1 Khái niệm về rủi ro trong nền kinh tế Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Nó là một yếu tố khách quan nên con người không thể loại trừ được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những thiệt hại do chúng gây ra. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro nhưng nhìn chung có thể chia làm hai quan điểm: - Thứ nhất, theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người. - Thứ hai, theo quan điểm trung hòa: rủi ro là sự không chắn chắn có thể đo lường được, rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực.
Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội, thời cơ. Nếu tích cực nghiên cứu, nhận dạng, đo lường rủi ro, chúng ta có thể tìm được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội tích cực mang lại từ rủi ro.2 Rủi ro lãi suất Ngân hàng 1.1 Khái niệm: Theo Timothi W.Koch rủi ro lãi suất là sự thay đổi tiềm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàng xuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất”.Fitch thì “rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thị trường sẽ dẫn đến tài sản sinh lời giảm giá trị”. Nhìn chung, rủi ro lãi suất có thể được hiểu là rủi ro thu nhập lãi thực sẽ giảm khi có sự thay đổi lãi suất thị trường hoặc có biến động bởi những yếu tố liên quan đến lãi suất. Qua khái niệm trên, ta có thể rút ra một số nhận xét sau để hiểu rõ hơn về bản chất của rủi ro: 123doc 4 - Một là, rủi ro và lợi nhuận của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định.
- Hai là, khi đề cập đến rủi ro, người ta thường nhắc đến hai yếu tố mang tính đặc trưng của rủi ro là biên độ rủi ro: mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra và tần suất xuất hiện của rủi ro (số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện/tổng số trường hợp đồng khả năng). - Ba là, rủi ro là yếu tố khách quan nên người ta không thể nào loại trừ hẳn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại của chúng gây ra hay nói cách khác là “sống chung với rủi ro”.2 Tiêu chí xác định rủi ro lãi suất - Kỳ hạn của Tài sản Có và Tài sản Nợ. - Chênh lệch lãi suất huy động và cho vay, đầu tư. - Tỷ lệ lạm phát dự kiến so với tỷ lệ lạm phát thực tế.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất: Khi xuất hiện sự không cân xứng về kỳ hạn giữa Tài sản Nợ và Tài sản Có Trƣờng hợp 1: Kỳ hạn Tài sản Nợ nhỏ hơn Tài sản Có 0 Tài sản Nợ 1 0 Tài sản Có 2 Nếu trường hợp này xảy ra thì đồng nghĩa với việc ngân hàng đang huy động vốn ngắn hạn để cho vay, đầu tư dài hạn.
Rủi ro lãi suất sẽ trở thành hiện thực khi lãi suất huy động trong những năm tiếp theo tăng lên trong khi lãi suất cho vay và đầu tư dài hạn không đổi. Ví dụ: 123doc 5 Bảng 1.1: Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất trong trường hợp kỳ hạn Tài sản Nợ nhỏ hơn Tài sản Có. Ngân hàng huy động vốn 1000 tỷ, thời Ngân hàng cho vay 1000 tỷ, thời hạn 24 hạn 12 tháng, lãi suất 8%/năm. Chi phí tháng, lãi suất 12%/năm.
Thu nhập lãi lãi(12 tháng) là: 1000 tỷ*8%/năm=80 tỷ (12 tháng) là: 1000 tỷ *12%/năm=120 tỷ Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất nếu sau 12 tháng lãi suất huy động vốn tăng lên 9%/năm. Lợi nhuận nhân hàng sẽ bị sụt giảm do thu nhập lãi vẫn không đổi là 120 tỷ nhưng chi phí lãi đã tăng lên 90 tỷ (tăng thêm 10 tỷ đồng nghĩa lợi nhuận ngân hàng năm thứ hai sẽ giảm 10 tỷ) (Nguồn: Giả định của tác giả) Trƣờng hợp 2:Kỳ hạn Tài sản Nợ lớn hơn Tài sản Có 0 1 2 Tài sản Nợ Tài sản Có Trường hợp này ngân hàng đang huy động vốn có kỳ hạn dài để cho vay đầu tư với kỳ hạn ngắn. Rủi ro lãi suất sẽ thành hiện thực khi lãi suất huy động trong những năm tiếp theo không đổi, trong khi lãi suất cho vay và đầu tư giảm xuống.2: Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất trong trường hợp kỳ hạn Tài sản Nợ lớn hơn Tài sản Có. Ngân hàng huy động vốn 1000 tỷ, thời Ngân hàng cho vay 1000 tỷ, thời hạn 12 hạn 24 tháng, lãi suất 8%/năm.
Chi phí tháng, lãi suất 12%/năm. Thu nhập lãi là: lãi là: 1000 tỷ*8%/năm=80 tỷ 1000 tỷ *12%/năm=120 tỷ Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất nếu sau 12 tháng lãi suất cho vay giảm xuống 11%/năm. Lợi nhuận nhân hàng sẽ bị sụt giảm do chi phílãi vẫn không đổi là 80 tỷ 123doc 6 nhưng thu nhập lãi đã giảmxuống110 tỷ (giảm xuống 10 tỷ đồng nghĩa lợi nhuận ngân hàng năm thứ hai sẽ giảm 10 tỷ) (Nguồn: Giả định của tác giả) Do các ngân hàng áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay Trƣờng hợp 1: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất cố định nhưng cho vay với lãi suất thả nổi. Ví dụ trường hợp một ngân hàng huy động 1.000 tỷ VND từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư với kỳ hạn 12 tháng lãi suất cố định là 14% tại thời điểm năm 2011.
Đồng thời cho vay tương ứng 1000 tỷ kỳ hạn 12 tháng lãi suất thả nổi 3 tháng thay đổi 1 lần bằng lãi suất niêm yết kỳ hạn 12 tháng + biên độ. Nếu trong tương lai lãi suất giảm xuống thì rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện do phần chi phí lãi không đổi nhưng thu nhập lãi sẽ giảm xuống. Lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm. Trƣờng hợp 2: Ngân hàng huy động vốn với lãi suất biến đổi nhưng cho vay với lãi suất cố định.
Nếu lãi suất tăng thì Ngân hàng sẽ đứng trước rủi ro lãi suất do chi phí lại tăng lên nhưng thu nhập lãi không đổi, lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm. Hầu hết các ngân hàng hiện nay đều muốn giảm thiểu rủi ro này vì vậy lãi suất cho vay luôn thả nổi từ 1,3,6 tháng thay đổi 1 lần. Đồng thời cũng đưa ra nhiều loại hình tiết kiệm với kỳ hạn dài nhưng lãi suất linh hoạt theo từng thời kỳ. Nhờ điều này mà các ngân hàng đã giảm thiểu được khoảng cách kỳ hạn giữa các loại tài sản.
Do sự thay đổi của lãi suất thị trường dẫn đến sự thay đổi giá trị của Tài sản Nợ và Tài sản Có. Như chúng ta đã biết giá trị thị trường của tài sản là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của dòng tiền. Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng dẫn đến sức chiết khấu của giá trị tài sản cũng tăng lên, và khi đó giá trị hiện tại của tài sản nợ và tài sản có sẽ giảm xuống. Do sự mất cân đối giữa nguồn huy động và sử dụng: tỷ lệ sử dụng vốn là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng.
Nếu một ngân hàng huy động 10.000 tỷ đồng với mức lãi suất bình quân là 8%/năm trong thời gian 01 năm. Chi phí trả lãi là 10. 123doc 7 Trong khi sử dụng để cho vay, đầu tư khác chỉ chiếm 70% nguồn huy động và với mức lãi suất khoảng 12%/năm. Thu nhập dự kiến sau 01 năm là 10.
Nhưng nếu ngân hàng này sử dụng vốn nhiều hơn chẳng hạn đạt khoảng 80% nguồn huy động và với mức lãi suất 12%/năm.Thu nhập dự kiến sau 1 năm là 10. Như vậy thu nhập của ngân hàng đã tăng lên đáng kể khi tỷ lệ sử dụng vốn tăng lên.4 Mô hình đo lường rủi ro lãi suất Để phòng ngừa rủi ro lãi suất bản thân các ngân hàng cần phải tăng cường công tác quản lý và đặc biệt áp dụng các biện pháp để lượng hóa được rủi ro lãi suất có ảnh hưởng như thế nào đối với lợi nhuận. Hiện nay, các ngân hàng thường áp dụng 3 mô hình sau để đo lường rủi ro lãi suất: Mô hình kỳ hạn đến hạn (The Maturity model): Nội dung của mô hình kỳ hạn đến hạn là dựa vào thời hạn của Tài sản Nợ và Tài sản Có và thời gian đáo hạn để đo lường sự biến động giá trị của chúng trước sự biến động của lãi suất. Để áp dụng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất đối với danh mục Tài sản Nợ và Tài sản Có của ngân hàng, trước hết các nhà quản trị phải tính được kỳ hạn bình quân của danh mục tài sản.
Vì mỗi tài sản trong danh mục tài sản hay nợ đều có kỳ hạn riêng biệt và chiếm một tỷ trọng nhất định. Gọi MA là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục Tài sản Có; ML là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục Tài sản Nợ, ta có: ∑ ∑ Trong đó: ∑ ∑ là tỷ trọng và là kỳ hạn đến hạn của Tài sản Có thứ i; 123doc 8 là tỷtrọng và là kỳ hạn đến hạn của Tài sản Nợ thứ j; n, m là số loại Tài sản Có và Tài sản Nợphân theo kỳ hạn. i, j có giá trị từ 1 đến n. Những quy tắc chung trong việc quản trị rủi ro lãi suất đối với một tài sản cũng có giá trị đối với một danh mục tài sản.
Tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến giảm (tăng) giá trị của danh mục tài sản. Khi lãi suất thị trường tăng (giảm) thì danh mục tài sản có kỳ hạn càng dài sẽ giảm (tăng) giá càng lớn.