Chương 1: Lý luận chung về lãi suất và quản NHTM các NHTM trên địa bàn - Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại TP.HCM rủi ro lãi suất tại các ngân - Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị NHTM trên địa bàn TP.HCM iB iw LUAN | CHUNG \ VỀEL. Io — - SUẤT vÀ QU AN TRI RỦI RO 7 | _ LÃI SUẤT TẠI NGÂN HAN - CHUONG 1 TAI LÝ LUAN CHUNG VE LAI SUAT VA QUAN TR] RUI RO LAT SUAT NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Những vấn đề chung về lãi suất 1.1 Khái niệm và phân loại lãi suất 1.1 Khái niệm lãi suất cũng phải trả thêm một Khi sử dụng bất kỳ một khoản tín dụng nào, người vay người cho vay chuyển quyền phan giá trị ngoài phần vốn gốc vay ban đâu, bởi lẽ khi quyển sử dụng tiên tệ hôm sử dụng vốn cho người khác có nghĩa là anh ta hy sinh mai. nay với hy vọng có được lượng tiền tệ lớn hơn vào ngày thời gian nhất định tư bản Trong tác phẩm Tư bản, C. Mác cho rằng sau một theo một giá trị tăng thêm đó là lợi cho vay được hoàn trả lại người chủ của nó kèm dụng là một phần của lợi nhuận do tức tín dụng, và ông khẳng định rằng lợi tức tín người cho vay.
Đây là sự người đi vay tạo ra do sử đụng vốn vay và phan phối lại cho vốn. Công thức tổng quát phản phân phối hợp lý giữa người có vốn và người sử dụng C. Mác miêu tả một cách thuyết ánh sự vận động của tư bản cho vay (tiên tệ) được giữa tổng số lợi tức thu được phục T — T”. Ông cũng cho rằng lãi suất là tỉ lệ phần trăm của vốn cho vay.
của vốn cho vay trong thời gian một năm so với số lượng mối quan hệ tỷ lệ mà người Mác, lãi suất được hình thành từ tỷ suất lợi nhuận và trong của mình cho người cho vay. Do đi vay phân chia một phần trong tổng số lợi nhuận người đi vay thu được. Xét trên góc đó, lợi tức hay lãi suất phải bé hơn lợi nhuận của quân trong nên kinh tế. độ vĩ mô, lãi suất phải nhỏ hơn tỷ suất lợi nhuận bình cũng đưa ra những khái Các nhà kinh tế học hiện đại khi nghiên cứu về lãi suất Keynes cho rằng lãi suất niệm về lãi suất khác nhau.
Nhà kinh tế học John Maynard trong một khoảng thời gian chính là số tiên phải trả cho việc không sử dụng tiền mặt thích tiễn mặt và chính vì vậy, nhất định [10]. Theo ông, con người có khuynh hướng ưa tế học Marshall nói: lãi suất là phần thưởng cho những ai xa rời tiên mặt. Còn nhà kinh g bất kỳ” [6]. “Lãi suất là giá phải trả cho việc sử dụng vốn trên một thị trườn nào, thì lãi suất cũng Từ các khái niệm trên có thể thấy, dù nghiên cứu ở góc độ quyển sử dụng vốn.
Loại giá chính là giá cả của một loại hàng hóa đặc biệt, đó chính là gốc nhất định. Như vậy, có cả này có thể được tính theo thời gian và trên một giá trị vốn của quyên được sử dụng thể phát biểu khái niệm lãi suất như sau: “Lãi suất là giá cả trả cho người sở hữu nó `. vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả trên số Trên thực tế người ta thường dùng tỷ lệ phần trăm giữa số lãi tiền cho vay trong một thời hạn nhất định để biểu hiện lãi suất.2 Phân loại lãi suất là các cách phân loại Có nhiễu cách phân loại lãi suất khác nhau, sau đây thông thường về lãi suất: - _ Phân loại theo loại hình tín dụng Theo cách phân loại này lãi suất được chia làm các loại sau: khi các doanh nghiệp + Lãi suất tín dụng thương mại: là loại lãi suất áp dụng hóa. Tùy theo thời hạn mua bán cho nhau vay đưới hình thức mua bán chịu hàng giữa các doanh nghiệp tham chịu, cung — cầu về mua bán chịu và mức độ tín nhiệm g mại có các mức khác nhau.
gia quan hệ mua bán chịu mà lãi suất tín dụng thươn áp dụng trong quan hệ giữa + Lãi suất tín dụng ngân hàng: là loại lãi suất thu hút tiền gửi và cho vay, trong NHTM với công chúng và doanh nghiệp trong việc các NHTM và trong quan hệ hoạt động tái cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho hàng. giữa các NHTM với nhau trên thị trường liên ngân dụng khi Nhà nước đi vay của + Lãi suất tín dụng Nhà nước: là loại lãi suất áp thức phát hành các chứng khoán nợ các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình ấn định căn cứ vào như trái phiếu, tín phiếu. Loại lãi suất này có thể do Nhà nước sự biến động lãi suất tiển gửi tiết kiệm của các NHTM và vào các yếu tố khác như của lạm phát, nhu câu cấp thiết về vốn của Nhà nước. quan hệ giữa lạm - Phân loại theo giá trị thực của lãi suất (hay theo mối phát và lãi suất) làm hai loại: Lãi suất căn cứ vào cách phân loại này có thể được chia nghĩa của tiền tệ, + Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh dụng thông thường nó được công bố chính thức kèm theo một khoản tín của lạm phát.
+ Lãi suất thực: là lãi suất đã được điều chỉnh lại theo những thay đổi Irving Fisher, Mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa được thế kỷ XX nêu thành một trong số những chuyên gia kinh tế tiền tệ lớn trong phương trình sau: Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát Nếu chuyển vế của phương trình ta có thể viết: Lãi suấtthực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát thực và tỷ lệ lạm Như vậy, với một mức lãi suất danh nghĩa cho trước, lãi suất lệ lạm phát sẽ làm giảm phát biến thiên ngược chiều nhau, một sự tăng lên trong tỷ lãi suất thực là rất quan tỷ lệ lãi suất thực. Việc phân biệt giữa lãi suất danh nghĩa và ánh chính xác hơn thu trọng vì so với lãi suất danh nghĩa thì lãi suất thực sẽ phản nhập từ việc cho vay và chỉ phí của việc vay mượn. -_ Phân loại theo tính chất hợp đồng tài chính: tính chất của hợp đồng Trả lãi theo mức cố định hay thả nổi là biểu hiện của chia làm hai loại: tài chính. Theo cách phân loại này, lãi suất được suốt thời hạn vay.
+ Lãi suất cố định: là lãi suất được áp dụng cố định trong và người đi vay sẽ biết Ưu điểm của việc áp dụng loại lãi suất này là người cho vay linh hoạt với các trước số tiễn lãi mình phải trả, tuy nhiên nó lại hạn chế sự phản ứng biến động của cung cầu vốn trên thị trường. + Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi phù hợp với sự biến động lãi suất và người cho vay của thị trường. Mặc dù khi áp dụng cơ chế lãi suất này, người đi vay trong một môi không thể xác định chính xác mức lãi suất sẽ phải trả nhưng nó thích hợp trường đầu tư không ổn định và các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất là khó dự đoán.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất Trên thực tế có rất nhiễu cách tiếp cận để tìm hiểu những biến đối của lãi áp dụng đó suất, trong đó cách tiếp cận phổ biến thường được các nhà chuyên môn hiện giá cả của là dựa vào lý thuyết quỹ cho vay. Theo lý thuyết này, lãi suất biểu tiền của khoản tiển mà người cho vay đồi hỏi khi tạm thời trao quyển sử dụng khoản người cho vay với mình cho người khác.
Nó hàm chứa mâu thuần giữa một bên là muốn mong muốn nhận được mức lãi suất cao và một bên là người đi vay với mong cầu quỹ chỉ chịu mức lãi suất thấp. Như vậy, lãi suất sẽ được quyết định bởi cung và cho vay trên thị trường.1 Cung - cầu quỹ cho vay Bảng 1.1 Cung cầu quỹ cho vay Cầu quỹ cho vay Cung quỹ cho vay của các Nhu cầu vay vốn của các chủ thể trong | Khối lượng vốn dùng để cho vay nên kinh tế: chủ thể khác nhau trong xã hội: - - Các doanh nghiệp - "Tiết kiệm của cá nhân, hộ gia - Hộ gia đình đình - Chính quyển - Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của -_ Các chủ thể khác các doanh nghiệp - Các khoản thu chưa sử dụng đến của Ngân sách nhà nước - Nguồn vốn của các chủ thể khác - Cầu quỹ cho vay Câu quỹ cho vay là nhu cầu vay vốn của các chủ thể khác nhau trong nền thể khác. kinh tế, bao gồm các doanh nghiệp, hộ gia đình, chính quyển và các chủ tư và trang trải Các doanh nghiệp và hộ gia đình thường có nhu cầu vay vốn để đầu Nhu cầu vay các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. g) vốn của khu vực chính quyển (bao gồm cả chính quyền trung ương và địa phươn chỉ thường xuất phát từ nhu câu bù đắp thiếu hụt ngân sách và đáp ứng các nhu cầu Các chủ thể tiêu cho các dịch vụ công như y tế, giáo dục, xây dựng câu đường,.
và chính phủ nước ngoài, các tổ chức trung gian tài khác ví dụ như cá nhân suất chính,v. cũng có nhu cầu vay vốn để đầu tư, phản ứng với sự chênh lệch lãi tạo thành giữa hai quốc gia. Tổng hợp nhu cầu về vốn cho vay của các chủ thể này cầu cầu quỹ cho vay của xã hội, biến động ngược chiểu với lãi suất. Do đó, đường vay là một đường dốc quy cho vay thể hiện mối quan hệ giữa lãi suất và cầu quỹ cho a xuống, hàm ý rằng lãi suất càng thấp thì càng có nhiều người muốn đi vay.
- - Cung quỹ cho vay thể khác Cung quỹ cho vay là khối lượng vốn dùng để cho vay của các chủ nhau trong xã hội, được tạo bởi các nguồn sau: trọng của quỹ + Tiết kiệm của các cá nhân, hộ gia đình: đây là bộ phận quan lai, dự tính về cho vay, phụ thuộc vào thu nhập hiện có, dự tính trong tương mức độ lạm phát, mức lãi suất,. hình thức: quỹ dự + Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp dưới phòng, lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng,. + Các khoản thu chưa sử dụng đến của ngân sách nhà nước doanh nghiệp hay + Nguồn vốn của các chủ thể khác: ví dụ như chính phủ, dân cư nước ngoài. thừa chưa sử dụng Như vậy, cung quỹ cho vay được tạo bởi khối lượng vốn dư phủ và các chủ thể khác.