chương 1 bao gồm các vấn đề sau: (1.1) Giới thiệu chung về Ngân hàng BIDV Việt Nam BIDV – Chi nhánh Hà Thành, (1.2) Phân tích các rủi ro trong các phương thức thanh toán quốc tế tại BIDV Hà Thành, (1.3) Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV Hà Thành, (1.4) Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại BIDV Hà Thành. Sau đây là nội dung cụ thể của từng vấn đề: 1.MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ NH ĐT&PT VN (BIDV) - CHI NHÁNH HÀ THÀNH 1. Quá trình hình thành và phát triển của NH ĐT&PT VN (BIDV) – Chi nhánh Hà Thành Thành lập ngày 26-4-1957 theo quyết định số 177/TTg của thủ tướng chính phủ với tên ban đầu là ngân hàng kiến thiết Việt Nam, ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ( tên giao dịch là BIDV ) là một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất nước ta. Trải qua gần 50 năm tồn tại và phát triển với hai lần đổi tên ( 1981 đổi tên là ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam, năm 1991 đổi tên là ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ).
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam không những hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ban đầu của mình là nhận vốn đầu tư phát triển Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế | Trang 12 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Sinh viên: Phan Huy Lễ của ngân sách để tài trợ cho những dự án phát triển kinh tế kĩ thuật của nhà nước mà còn không ngừng phấn đấu để trở thành một ngân hàng kinh doanh đa năng theo yêu cầu đổi mới. Cho tới nay ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam đã hình thành hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước với trên 69 chi nhánh (5 chi nhánh tại Hà Nội, 3 công ty độc lập, 2 trung tâm, 3 liên doanh). Tổng số cán bộ trong toàn hệ thống ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trên 10 nghìn cán bộ, trong đó 1.35% có trình độ sau đại học, 65.52% có trình độ đại học và 33.13% có trình độ cao đẳng. Được chính thức thành lập ngày 26-11-1990 theo thông báo số 572 TCCB-ĐT của vụ tổ chức cán bộ Ngân hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và quyết định số 76 QĐ- TCCB ngày 28-3-1991 của tổng giám đốc Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Trong hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam , căn cứ vào quy định số 191/QĐ- HĐQT ngày 05-07-2004 của chủ tịch Hội đồng quản trị và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành. Và theo quy định 4233/CV- TCCB1 ngày 28/10/2003 của tổng giám đốc NHĐT & PTVN về xây dựng mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh khi triển khai dự án hiện đại hoá. Mô hình tổ chức và hoạt động của Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV – Chi nhánh Hà Thành Qua hơn mười năm hoạt động, cơ cấu tổ chức của sở giao dịch cũng đã có nhiều thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, chức năng nhiệm vụ kinh doanh. Hiện tại, cơ cấu tổ chức của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam - chi nhánh Hà Thành gồm có một giám đốc và 3 phó giám đốc, với đội ngũ nhân viên trên 270 người trong đó phần lớn là những người có trình độ đại học và trên đại học.
Các phòng của NHĐT & PTVN được tổ chức sắp xếp theo quyết định số 916/QĐ- TCHC của giám đốc NHĐT & PTVN ngày 8-9-2003, mô hình cơ cấu tổ chức của ngân hàng được trình bày theo sơ đồ sau: Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế | Trang 13 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Sinh viên: Phan Huy Lễ Chú thích: - Phòng Tín dụng 1 - Phòng Tín dụng 2 - Phòng Nguồn vốn kinh doanh - Phòng Kiểm tra- Kiểm toán nội bộ - Phòng Thanh toán quốc tế - Phòng Điện toán - Phòng Tài chính kế toán - Phòng Dịch vụ khách hàng cá nhân - Phòng Dịch vụ khách hàng tổ chức Ban Bangiám giámđốc đốc P.Tín Tíndụng dụng11 CN.Hà HàTHành THành P.Tín Tíndụng dụng22 PGD PGD11 Các Cácđơn đơn vịvịtrực trực thuộc P.NVKD PGD thuộc NVKD PGD22 P.KT KT- -KTNB CN.Láng LángHạ Hạ phòng phòng ban P.Thanh ban Thanhtoán toánQT QT P.Điện Điệntoán toán P.TC TC- -KT KT P.DV DVKH KHCN CN P.DV DVKH KHTC TC Hình 1: Cơ cấu tổ chức của NH ĐT&PT VN (BIDV) – Chi nhánh Hà Thành Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế | Trang 14 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Sinh viên: Phan Huy Lễ 1. Các hoạt động kinh doanh chính của NH ĐT&PT VN (BIDV) – chi nhánh Hà Thành liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn 2008-2011. Các hoạt động kinh doanh chính của NH ĐT&PT VN (BIDV) – chi nhánh Hà Thành liên quan đến hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn 2008 – 2011 là Thanh toán hàng xuất khẩu và Thanh toán hàng nhập khẩu; cụ thể là 3 phương thức chủ yếu : L/C, Nhờ thu, Chuyển tiền. Và để thấy được những xu hướng biến động, thay đổi của hoạt động thanh toán quốc tế trong giai đoạn 2008 – 2011 tại Chi nhánh NH ĐT&PT Hà Thành, ta hãy theo dõi 2 bảng về Tốc độ tăng trưởng doanh số Thanh toán xuất nhập khẩu và Tình hình sử dụng các phương thức thanh toán quốc tế được thống kê cụ thể như sau: Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng doanh số TTXNK qua NHĐT & PTVN - Chi Nhánh Hà Thành năm 2008-2011 Đơn vị: Ngàn USD Tổng DSTTXNK T.Toán hàng xuất T.Toán hàng nhập Năm Số Tiền Tăng trưởng Số Tiền Tăng trưởng Số Tiền Tăng trưởng 2008 4015 12,73% 1781 9,19% 2236 15,67% 2009 5071 26,22% 2349 31,76% 2725 21,91% 2010 5041 -0,66% 2131 -9,28% 2911 6,78% 2011 5461 8,38% 2251 5,72% 3211 10,32% (Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm - NHĐT & PTVN - Chi Nhánh Hà Thành ) - Thông qua số liệu trên ta thấy: Năm 2011 tổng doanh số thanh toán hàng xuất nhập khẩu đạt 5461 ngàn USD, tăng 8,38% trong đó, doanh số thanh toán hàng xuất khẩu đạt 2251 ngàn USD tăng 5,72% còn doanh số thanh toán hàng nhập khẩu là 3211 ngàn USD tăng 10,32%.
- Nhìn qua các năm ta nhận thấy năm 2009 tổng doanh số thanh toán xuất nhập khẩu đạt 5071 ngàn USD, tăng 26,22% trong đó doanh số thanh toán hàng xuất đạt 2131 ngàn USD, tăng 31,76% còn thanh toán hàng nhập đạt 2725 ngàn USD, tăng 21,91%. Đây là năm có sự tăng trưởng cao hơn các năm cả về hàng xuất lẫn hàng nhập, có được điều này là do sự nỗ lực của các doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế | Trang 15 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Sinh viên: Phan Huy Lễ nghiệp, điều kiện thuận lợi, giá cả hàng hoá tăng, rất thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài nhập khẩu và là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại tăng khả cạnh tranh trên trường quốc tế. - Nhưng đến năm 2010 tổng doanh số thanh toán hàng xuất nhập khẩu đạt 5041 ngàn USD, giảm 0,66%, trong đó doanh số thanh toán hàng xuất đạt 2131 ngàn USD giảm 9,28% còn doanh số thanh toán hàng nhập đạt 2911 ngàn USD, chiếm 6,78%. Điều này xảy ra là do doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu nhiều hơn là xuất khẩu và cũng trong năm 2010 do có nhiều sự biến động về chính trị: như chiến tranh giữa các nước Mỹ, IRĂC, vụ kiện cá basa, vụ kiện tôm, bệnh dịch đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp bị ngưng lại một thời gian để tìm kiếm thị trường mới bên cạnh thị trường truyền thống.
- Tình hình sử dụng các phương thức TTQT tại CN Hà Thành cụ thể như sau: Bảng 2: Tình hình sử dụng các phương thức TTQT tại NHĐT & PTVN – Chi Nhánh Hà Thành Đơn vị: Ngàn USD 2009 2010 2011 Chỉ tiêu Số tiền TT(%) Số tiền TT(%) Số tiền TT(%) 1.3 T/T 1041 38,21 640 22% 585 18,22% Cộng(1+2) 5071 5041 5461 (Nguồn: Báo cáo thống kê 2009-2011- NHĐT & PTVN - CN Hà Thành ) Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế | Trang 16 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Sinh viên: Phan Huy Lễ - So sánh kêt quả hoạt động từ các phương thức thanh toán + Qua bảng số liệu trên ta thấy: Trong phương thức Thanh toán hàng nhập, phương thức L/C luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số thanh toán hàng nhập khẩu qua ngân hàng. Năm 2009 chiếm tỷ trọng 48,95%, năm 2010 chiếm 54,12%, năm 2011 chiếm 55,3%. Còn trong phương thức chuyển tiền bằng điện có xu thế tăng, năm 2009 chiếm tỷ trọng 38,21%, năm 2010 chiếm 22%, năm 2011 chiếm 18,22%. Phương thức thanh toán nhờ thu chiếm tỷ trọng nhỏ, cụ thể: năm 2009 chiếm 12,84%, năm 2010 chiếm 23,88%, năm 2011 chiếm 26,48%.
+ Ngược lại, trong phương thức thanh toán hàng xuất thì phương thức thanh toán bằng L/C lại ngày một giảm, chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng doanh số thanh toán hàng xuất qua NHĐT & PTVN – Chi Nhánh Hà Thành, năm 2009 chiếm tỷ trọng 40,46%, năm 2010 chiếm 29%, năm 2011 chiếm 26%. Phương thức thanh toán chuyển tiền chiếm tỷ trọng lớn nhất trong doanh số thanh toán hàng xuất, năm 2009 chiếm 44,64%, năm 2010 chiếm 53%, năm 2011 chiếm 55%. Phương thức nhờ thu cũng chiếm một tỷ trọng nhỏ năm 2009 là 14,90%, năm 2010 chiếm 19%, năm 2011 là 20%. - Đánh giá kết quả thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế tại phòng thanh toán xuất nhập khẩu NH ĐT & PT VN ( BIDV ) – Chi nhánh Hà Thành + Thực trạng trên xảy ra là do phía doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng chấp nhận yêu cầu của phía đối tác nước ngoài, khi doanh nghiệp Việt Nam nhập hàng của nước ngoài thì họ yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam phải mở L/C để ràng buộc trách nhiệm thanh toán của ngân hàng.
Để tăng khả năng an toàn cho họ, do đó trong thanh toán hàng nhập phương thức L/C được sử dụng phần lớn. + Ngược lại, khi doanh nghiệp VN xuất khẩu, một số doanh nghiệp tin tưởng đối tác nước ngoài và sẵn sàng nhận bán hàng theo phương thức nhờ thu DA hoặc T/T sau khi giao hàng. Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh quốc tế | Trang 17 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP Sinh viên: Phan Huy Lễ + Có những doanh nghiệp không muốn dùng phương thức thanh toán L/C vì phí dịch vụ phát sinh nhiều hơn phương thức thanh toán khác.