phần mở đầu, kết luận và danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Chƣơng 3: Thực trạng quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Chƣơng 4 : Định hƣớng và giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tài chính của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.
luan an 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Với quá trình phát triển trải qua gần 2 thế kỷ, trên thế giới và cả ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro tài chính doanh nghiệp và quản trị rủi ro tài chính theo các phƣơng pháp tiếp cận khác nhau. NCS đã tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan làm cơ sở nền tảng và tạo tiền đề lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu của mình theo 4 nhóm nội dung, bao gồm: (1) Các công trình nghiên cứu về lý thuyết về rủi ro và rủi ro tài chính; (2) Các công trình nghiên cứu về nhận diện rủi ro tài chính; (3) Các công trình nghiên cứu về đo lƣờng rủi ro tài chính; (4) Các công trình nghiên cứu về kiểm soát rủi ro tài chính. Các công trình nghiên cứu về lý thuyết về rủi ro và rủi ro tài chính Các vấn đề lý luận chung về RRTC bao gồm những vấn đề liên quan đến lịch sử và quá trình phát triển của RRTC, các quan điểm về RRTC, khái niệm, bản chất, vai trò, đối tƣợng và nội dung RRTC.
Khái niệm về rủi ro xuất hiện rất sớm trên thế giới với nghiên cứu nổi tiếng của A. Willet cho rằng rủi ro là các nguy cơ có tƣơng quan không chắc chắn (Willet, 1901). Trong khi đó, Frank Knight (1895 - 1973) - nhà khoa học, nhà kinh tế học ngƣời Mỹ với đóng góp lớn nhất của ông đối với kinh tế, có thể coi ông là một trong những nhà khoa học hiện đại đầu tiên nghiên cứu sâu về rủi ro và bất ổn. Mục tiêu cơ bản của ông là giải thích sự điều tiết lợi nhuận trong kinh doanh dƣới dạng một hàm số của rủi ro bất định.
Ông đã phân biệt giữa rủi ro và bất định, khi nào dùng khái niệm rủi ro (risk) –là sự không chắc chắn có thể đo lƣờng đƣợc; và khi nào dùng khái niệm bất ổn (uncertainty) - là khi khả năng phát sinh một kết quả là không thể tính toán đƣợc.Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại phát triển, nghiên cứu của F.Knight đã có tác dụng gắn kết những vấn đề về mặt lý thuyết giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô (Knight, 1921). Các nghiên cứu hiện đại phát triển khái niệm rủi ro đều dựa trên cách tiếp cận truyền thống này. Theo nghiên cứu của Nassim Nicholas cho rằng: “rủi ro là những biến cố xuất hiện một cách ngẫu nhiên gây ra thiệt hại cho các chủ thể liên quan”. Nghiên cứu của Eichhorn (2004) và Ann-Katrin Napp (2011), rủi ro tài chính có thể có hai hình thức khác nhau.
Rủi ro tài chính do nhân tố khách quan phụ thuộc vào những thay đổi trên thị trƣờng tài chính nhƣ lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa. Rủi ro tài chính do nhân tố chủ quan, trong đó tình hình tài chính là nguồn gốc của những rủi ro. Theo quan điểm của Steven Li (2003) thì rủi ro liên quan đến sự không chắc chắn của các yếu tố nhƣ lãi suất, tỷ giá, giá cổ phiếu và giá cả hàng hóa gọi là rủi ro tài chính. luan an 6 Khái niệm rủi ro tài chính ở Việt Nam đƣợc nhắc tới khá nhiều trong các công trình nghiên cứu.
Trong đó, các tác giả cho rằng rủi ro tài chính liên quan tới việc sử dụng nợ, chẳng hạn Lƣu Thị Hƣơng và Vũ Duy Hào (2006), Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2008), Vũ Văn Ninh và Phạm Thị Thanh Hòa (2017), Vũ Duy Hào và Đàm Văn Huệ (2009). Do đó, các công trình nghiên cứu cũng thƣờng tập trung vào nợ hay cấu trúc vốn của DN. Rủi ro tài chính theo cách hiểu này thƣờng đƣợc đặt song song với rủi ro hoạt động, là rủi ro liên quan tới sử dụng tài sản cố định trong DN. Cách hiểu này đƣợc nhiều nhà khoa học ủng hộ và cũng khá đồng thuận với rất nhiều công trình đƣợc nghiên cứu trên thế giới.
Ngoài ra, cũng xuất hiện khái niệm rủi ro kiệt giá tài chính - vốn xuất hiện nhiều trong các sách tham khảo ở các tỉnh, thành phố phía nam. Các tác giả, tiêu biểu là Nguyễn Thị Ngọc Trang và cộng sự (2007) cho rằng rủi ro kiệt giá tài chính liên quan đến độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trƣờng nhƣ lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán tác động lên thu nhập của DN. Phạm Tuấn Anh ( 2017) cho rằng rủi ro đối với đối với quá trình tài trợ và đầu tƣ các quỹ của DN, là nguyên nhân gây ra sự bất định trong quản trị tài chính DN. Do đó, nhà quản trị tài chính cần phải nhận diện và có những giải pháp hữu hiệu nhằm đối phó với các RRTC nhằm đảm bảo sự tăng trƣởng bền vững của DN.
Các công trình nghiên cứu về nhận diện rủi ro tài chính Để có thể đánh giá tác động của RRTC tới hoạt động SXKD của DN trƣớc tiên phải nhận diện đƣợc RRTC. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc xoay quanh nội dung nhận diện RRTC không có nhiều. Nhƣng một số nghiên cứu điển hình có thể kể đến nhƣ sau: Thứ nhất: Nhận diện rủi ro tài chính qua hệ số nợ Defang & Murong (2005) cho rằng RRTC của DN có liên quan tới quy mô nợ và cơ cấu nợ mà DN phải có trách nhiệm. Các tác giả nhận diện RRTC qua hệ số đòn bẩy tài chính và cho rằng RRTC có mối quan hệ tiêu cực với khả năng sinh lợi và hiệu năng hoạt động của DN.
Nghiên cứu của MacKay & Phillips (2005) và Vijitha Gunarathna (2016), cũng đồng quan điểm với Defang & Murong khi nhận diện RRTC thông qua đòn bẩy tài chính. Các nghiên cứu cùng thống nhất việc đầu tƣ vào tài sản của DN bằng nguồn vốn bên ngoài là một quyết định quan trọng. Vì, khi sử dụng nguồn vốn vay không có hiệu quả sẽ có nguy cơ vay nhiều hơn nữa làm gia tăng đòn bẩy tài chính và RRTC tăng lên. Thứ hai: Nhận diện rủi ro tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính Nghiên cứu của Li Zhe & cộng sự (2012) về quản lý RRTC trong các DN điện lại nhận diện RRTC thông qua năm nhóm chỉ số phản ánh khả năng trang trải các khoản nợ, năng lực điều hành, năng lực phát triển, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi.
Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ nhận diện RRTC cho Công ty cung cấp điện Lifeng trong hai năm 2008 - 2009 mà thôi. luan an 7 Vũ Thị Hậu (2013), trong luận án của mình đã nhận diện RRTC thông qua nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán với năm chỉ số: Khả năng thanh toán tổng quát, khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán nợ dài hạn và khả năng thanh toán lãi vay. Bên cạnh đó, tác giả đề cập tới nhóm chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá RRTC bao gồm: cơ cấu nợ, hiệu suất hoạt động, cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, phƣơng sai và độ lệch chuẩn. Trịnh Thị Phan Lan (2016), cũng đồng quan điểm với Vũ Thị Hậu khi nhận diện RRTC thông qua rủi ro đòn bẩy tài chính, rủi ro thanh khoản.
Bên cạnh đó, tác giả đề cập đến các dấu hiệu nhận biết RRTC khác nhƣ: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng thƣơng mại, rủi ro biến động giá nguyên vật liệu và rủi ro phá sản. Thứ ba, nhận diện rủi ro tài chính thông qua chỉ số Z - score Nguyễn Ngọc Trà Vy & Nguyễn Văn Công (2013), các tác giả đã nhận diện rủi ro phá sản tại các công ty kinh doanh dƣợc phẩm niêm yết trên TTCK Việt Nam thông qua chỉ số Z” đƣợc xác định thông qua các chỉ tiêu tài chính. Các tác giả đã vận dụng mô hình Z” của Altman, kết hợp với công cụ hỗ trợ trong thống kê toán và phần mềm văn phòng Microsoft để tính toán và thể hiện kết quả tính toán bằng đồ thị. Từ đó, tiến hành phân tích và đƣa ra các dự báo về nguy cơ xảy ra phá sản cùng với những khuyến nghị nhằm giảm thiểu rủi ro phá sản tại các công ty dƣợc phẩm.
Từ một chỉ số Z ban đầu Altman đã phát triển ra Z‟ và Z” để có thể áp dụng theo từng loại hình DN đã cổ phần hóa hay chƣa cổ phần hóa thuộc các ngành khác nhau. Tuy nhiên, bài báo mới đề cập đến các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng phá sản bằng mô hình Z” của Altman, chứ chƣa đi sâu vào các nhân tố ảnh hƣởng đến RRTC của các DN. Lâm Minh Chánh (2007), đã xác lập khái niệm, phƣơng pháp tính toán chỉ số Z cho từng loại hình công ty theo mô hình của Altman vào năm 2000. Tuy nhiên tác giả mới dừng lại ở dấu hiệu nhận biết nguy cơ phá sản và căn cứ vào đó để xếp hạng định mức tín nhiệm, chứ chƣa đi vào nhận diện RRTC.
Huỳnh Cát Tƣờng (2008) lại vận dụng chỉ số Z của Altman trong dự báo khánh kiệt tài chính ở trong và ngoài nƣớc, thông qua nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ: luật pháp, kinh tế, tài chính. Luận án tập trung vào dự báo khánh kiệt tài chính ở tầm vĩ mô chứ chƣa áp dụng nghiên cứu cho một loại hình DN cụ thể nào. Khổng Thanh Hòa (2008) cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của Altman trong nhận diện rủi ro phá sản với độ phù hợp là 70%. Nguyên nhân chính là do thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu quá ngắn chỉ trong năm 2007.
Bên cạnh đó, vào năm 2007 thị trƣờng nợ và trái phiếu của Việt Nam chƣa phát triển nên kết quả cũng chƣa đƣợc chính xác. Đào Thị Thanh Bình (2013), sử dụng chỉ số để nhận diện rủi ro vỡ nợ và xếp hạng tín dụng cho các công ty sản xuất của Việt Nam. Số liệu mô hình đƣợc thu thập từ các công ty sản xuất đƣợc niêm yết trên TTCK Việt Nam.