Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Tại tỉnh Hòa Bình, hệ thống giáo dục nghề nghiệp giữ vị trí then chốt khi đã thực hiện đào tạo cho trên 47.000 người trong giai đoạn 2018 - 2020, bao gồm hơn 7.660 người ở trình độ cao đẳng, trung cấp và 39.600 lượt người thuộc hệ sơ cấp, đào tạo thường xuyên dưới 3 tháng. Tuy nhiên, sau khi thực hiện sáp nhập theo Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV và Kế hoạch số 78/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, mạng lưới gồm 10 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên (GDNN – GDTX) cấp huyện đang phải đối mặt với nhiều bất cập trong công tác tổ chức và quản trị nguồn nhân lực.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, đo lường và kiểm soát các rủi ro nhân sự tiềm ẩn trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập dưới góc độ an ninh con người và an ninh phi truyền thống. Mục tiêu cụ thể là làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng quản trị rủi ro nhân sự tại 10 trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2019 - 2020, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp giải quyết nguy cơ thiếu hụt cục bộ giảng viên kỹ thuật cao, xử lý bài toán quá tải công tác và nâng cao mức độ an toàn nguồn nhân lực, đóng góp tích cực vào mục tiêu hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp của tỉnh Hòa Bình đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết quản trị an ninh phi truyền thống và lý thuyết quản trị nguồn nhân lực hiện đại. Trọng tâm của khung lý thuyết là mô hình An ninh nguồn nhân lực do Giáo sư Hoàng Đình Phi phát triển (2015, 2017), được thể hiện qua phương trình an ninh cơ bản: An ninh nguồn nhân lực = (An toàn + Ổn định + Phát triển bền vững) – (Chi phí quản trị rủi ro + Khủng hoảng + Chi phí khắc phục khủng hoảng). Phương trình này khẳng định an ninh nhân sự chỉ đạt trạng thái tối ưu khi tổ chức bảo vệ được trạng thái thể chất, tâm lý người lao động, đồng thời giảm thiểu tối đa các tổn thất do khủng hoảng vận hành gây ra.

Bên cạnh đó, tác giả kế thừa mô hình 8 nhóm rủi ro nguồn nhân lực của Becker & Smidth (2016) và chuẩn hóa vào bối cảnh giáo dục nghề nghiệp Việt Nam thành 6 khía cạnh cốt lõi: rủi ro sức khỏe và phúc lợi, rủi ro chất lượng công tác, rủi ro mất cân đối cơ cấu nhân lực, rủi ro tự học và sáng tạo, rủi ro pháp lý và rủi ro đổi mới phương pháp giảng dạy. Quy trình quản trị rủi ro được thiết lập theo Tiêu chuẩn quốc tế ISO 31000:2009 và TCVN ISO 31000:2018 với 6 bước khép kín gồm: thiết lập bối cảnh, trao đổi tham vấn, đánh giá rủi ro (nhận diện, phân tích, định mức), xử lý rủi ro, theo dõi xem xét và lập hồ sơ báo cáo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng dữ liệu thực chứng. Cỡ mẫu khảo sát gồm 50 đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên dạy văn hóa, giáo viên dạy nghề và nhân viên hành chính đang trực tiếp công tác tại 10 trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện đầy đủ cho các vị trí công tác và độ tuổi lao động khác nhau.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ma trận rủi ro theo tiêu chuẩn kỹ thuật TCVN IEC/ISO 31010 là khả năng lượng hóa chính xác mức độ nguy hại của các rủi ro định tính. Chỉ số phân loại rủi ro (I) được tính bằng tích số giữa xác suất xảy ra trung bình (P, tính theo tỷ lệ phần trăm từ thang đo 3 mức) và mức độ tác động trung bình (M, tính theo điểm số từ 1 đến 5 của thang đo Likert): I = P x M. Những rủi ro có xác suất P trên 50% và mức độ tác động M trên 3,50 (tương ứng chỉ số I từ 1,75 trở lên) được phân loại vào nhóm rủi ro nghiêm trọng (nhóm E) cần xử lý khẩn cấp. Toàn bộ dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2018 - 2020 kết hợp điều tra xã hội học trực tiếp trong giai đoạn 2019 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu nhân lực sau khi hợp nhất 3 mô hình trung tâm cấp huyện thành Trung tâm GDNN - GDTX. Sau sáp nhập, số lượng cán bộ quản lý cấp phó tại nhiều đơn vị vượt định biên, trong khi đội ngũ giáo viên dạy nghề kỹ thuật thực hành thiếu hụt khoảng 30% so với nhu cầu thực tế. Thực trạng này phản ánh sát diễn biến chung của cả nước khi báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận toàn quốc thiếu 11.113 giáo viên trung học phổ thông và giáo dục thường xuyên.

Thứ hai, rủi ro liên quan đến năng lực tự học, sáng tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy công nghệ số nằm ở mức báo động. Có đến 64% giáo viên được khảo sát thừa nhận gặp khó khăn khi làm chủ các phần mềm mô phỏng kỹ thuật và thiết bị công nghệ mới. Chỉ số rủi ro về năng lực thích ứng chuyển đổi số đạt mức I = 1,88 (thuộc nhóm rủi ro nghiêm trọng E), do phần lớn đội ngũ giảng viên lớn tuổi ngại thay đổi thói quen giảng dạy truyền thống.

Thứ ba, rủi ro về sức khỏe nghề nghiệp và chính sách đãi ngộ chưa tương xứng đang làm suy giảm động lực cống hiến. Thu nhập bình quân của cán bộ, giáo viên cơ hữu tại các trung tâm còn thấp, các chế độ đãi ngộ phi tài chính chưa phát huy hiệu quả. Điều này dẫn đến sự sụt giảm năng suất lao động ước tính khoảng 15% đến 20% và làm tăng nguy cơ chảy máu chất xám sang các doanh nghiệp tư nhân.

Thứ tư, nhận thức và quy trình xử lý rủi ro pháp lý tại các đơn vị còn mang tính bị động. Hơn 45% người lao động chưa nắm vững đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật mới về giáo dục nghề nghiệp, dẫn đến sai sót trong công tác lập hồ sơ giáo án, thực hiện định mức giờ dạy và liên kết đào tạo với doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các rủi ro trên xuất phát từ việc các trung tâm GDNN - GDTX chịu cơ chế quản lý kép: Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý trực tiếp về tổ chức, biên chế và ngân sách, trong khi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ. Sự phân mảnh này làm chậm quá trình ra quyết định và thiếu hụt nguồn lực đầu tư cho đào tạo bồi dưỡng đội ngũ. So với nghiên cứu của Trần Thị Thùy Dương tại môi trường đại học hay các phân tích của Trần Kim Dung (2018), rủi ro nhân sự tại các trung tâm GDNN - GDTX cấp huyện có tính chất phức tạp hơn khoảng 35% do địa bàn hoạt động trải rộng tại các huyện miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.

Dữ liệu khảo sát thực tế có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ ma trận phân loại rủi ro (Risk Heatmap) với 4 vùng cảnh báo: rủi ro thấp (L), rủi ro trung bình (M), rủi ro cao (H) và rủi ro nghiêm trọng (E). Biểu đồ phân tán này minh chứng rõ nét rằng các rủi ro về đổi mới sáng tạo và cơ cấu định biên đang nằm sâu trong vùng đỏ (vùng E), đòi hỏi sự can thiệp chính sách khẩn cấp từ các cấp quản lý thay vì chỉ áp dụng các biện pháp xử lý tình thế tạm thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới chính sách đãi ngộ tài chính và phi tài chính nhằm củng cố an ninh phúc lợi cho người lao động. Ban Giám đốc các trung tâm cần phối hợp với cơ quan tài chính cấp huyện xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ linh hoạt, trích lập quỹ khen thưởng hiệu suất công việc (KPI) nhằm nâng thu nhập tăng thêm cho giáo viên dạy giỏi từ 15% đến 20% trong giai đoạn 2022 - 2025. Đồng thời, cải thiện môi trường làm việc dân chủ, ghi nhận kịp thời các sáng kiến kinh nghiệm để tạo động lực gắn bó lâu dài.

Thứ hai, chuẩn hóa và ban hành quy trình quản trị rủi ro nhân sự 6 bước theo tiêu chuẩn TCVN ISO 31000:2018 tại 100% trung tâm GDNN - GDTX trên địa bàn tỉnh Hòa Bình trong vòng 12 tháng. Ban Giám đốc trung tâm là chủ thể chịu trách nhiệm cao nhất trong việc định kỳ 6 tháng một lần rà soát cây rủi ro, thiết lập chỉ số cảnh báo sớm (KRI) đối với từng phòng ban chuyên môn và tổ chức giáo vụ.

Thứ ba, triển khai chương trình nâng chuẩn kỹ năng số và phương pháp sư phạm nghề nghiệp hiện đại. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức định kỳ 2 đến 3 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về công nghệ thông tin, ứng dụng mô phỏng 3D trong dạy nghề. Mục tiêu cụ thể là đến cuối năm 2024 có trên 85% cán bộ, giáo viên hoàn thành chứng chỉ kỹ năng số và sẵn sàng ứng dụng bài giảng điện tử tương tác.

Thứ tư, tái cơ cấu tổ chức bộ máy và tối ưu hóa phân bổ định biên nhân lực. Ủy ban nhân dân các huyện cần tiến hành rà soát tổng thể, điều chuyển linh hoạt số lượng cán bộ dôi dư sang các vị trí việc làm phù hợp, đồng thời tuyển dụng bổ sung giáo viên các ngành nghề kỹ thuật trọng điểm như cơ khí, điện tử, công nghệ thông tin. Phấn đấu đến năm 2025 giảm tỷ lệ mất cân đối cơ cấu nhân sự xuống dưới 10%, bảo đảm định mức tỷ lệ giáo viên trên lớp đạt chuẩn theo quy định hiện hành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các Trung tâm GDNN - GDTX trên cả nước, đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi. Tài liệu cung cấp bộ công cụ nhận diện rủi ro định lượng và ma trận đánh giá I = P x M giúp các nhà quản lý nhanh chóng xác định các điểm nghẽn nhân sự trong đơn vị mình.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp huyện. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động sau sáp nhập trung tâm theo Thông tư liên tịch 39/2015, từ đó hỗ trợ công tác hoạch định chính sách phân bổ ngân sách, tinh giản biên chế và đặt hàng đào tạo nghề phù hợp với thực tế 10 huyện thị.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị An ninh phi truyền thống, Quản trị nguồn nhân lực, Quản lý giáo dục. Đề tài mở ra hướng tiếp cận học thuật liên ngành khi ứng dụng phương trình an ninh con người vào việc giải quyết bài toán vận hành của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã có liên kết đào tạo nghề tại địa phương. Doanh nghiệp có thể dựa vào các phân tích về năng lực giảng viên và cơ sở vật chất của trung tâm để xây dựng chiến lược hợp tác đào tạo thực hành, bảo đảm chất lượng cung ứng nguồn lao động qua đào tạo nghề cho thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Quản trị rủi ro nhân sự trong an ninh phi truyền thống khác gì so với quản trị nhân sự truyền thống?

Quản trị nhân sự truyền thống tập trung chủ yếu vào tuyển dụng, chấm công và tính lương. Ngược lại, quản trị rủi ro nhân sự theo hướng an ninh phi truyền thống tiếp cận toàn diện dựa trên phương trình an ninh con người: AN = (A + O + PTBV) – (CP + KH + KP). Cách tiếp cận này đo lường cả trạng thái tâm lý, an toàn thể chất và năng lực bền vững của tổ chức, giúp giảm thiểu chi phí phát sinh khi xảy ra khủng hoảng nhân sự.

Tại sao rủi ro nhân sự lại tăng cao sau khi sáp nhập các trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện?

Sau khi thực hiện Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT-BNV, việc hợp nhất 3 đơn vị có văn hóa tổ chức khác nhau đã tạo ra tình trạng dôi dư cục bộ cán bộ quản lý nhưng lại thiếu hụt giáo viên thực hành nghề. Điển hình tại 10 trung tâm tỉnh Hòa Bình, sự thiếu đồng bộ về quy chế chi tiêu và khác biệt về chế độ làm việc đã gây ra tâm lý bất an cho khoảng 40% người lao động.

Ma trận rủi ro I = P x M hỗ trợ người quản lý giáo dục đưa ra quyết định như thế nào?

Ma trận rủi ro chuẩn hóa việc đánh giá bằng cách nhân xác suất xảy ra (P) với mức độ tác động (M). Khi một rủi ro có chỉ số I từ 1,75 trở lên (thuộc nhóm nghiêm trọng E), người quản lý sẽ tự động kích hoạt kế hoạch can thiệp khẩn cấp. Ví dụ, rủi ro thiếu hụt kỹ năng công nghệ số của giáo viên có chỉ số I = 1,88 được xếp ưu tiên giải quyết hàng đầu trong kế hoạch đào tạo năm.

Làm thế nào để giải quyết áp lực tự học và đổi mới công nghệ của giáo viên lớn tuổi tại các huyện vùng cao?

Giải pháp hiệu quả là triển khai mô hình học tập đồng đẳng kết hợp khen thưởng theo thành tích ứng dụng. Trung tâm cần phân công giáo viên trẻ có chuyên môn tin học hỗ trợ trực tiếp giáo viên lớn tuổi theo nhóm 1 kèm 1, đồng thời trang bị thiết bị thực hành đồng bộ từ nguồn kinh phí hỗ trợ, giúp giảm bớt hơn 50% rào cản tâm lý e ngại công nghệ mới.

Chi phí quản trị rủi ro nhân sự bao gồm những khoản mục cụ thể nào?

Theo khung lý thuyết của luận văn, chi phí này bao gồm ngân sách dành cho hoạt động dự báo, bảo hiểm nghề nghiệp, kinh phí tổ chức các khóa đào tạo nâng chuẩn kỹ năng (khoảng 2 đến 3 đợt mỗi năm), chi phí trang bị bảo hộ lao động và chi phí xây dựng hệ thống phần mềm quản trị thông tin nhân sự nhằm loại trừ các tổn thất vận hành lớn hơn trong tương lai.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị rủi ro nhân sự trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp dựa trên khung phân tích an ninh con người và phương trình an ninh nguồn nhân lực.
  • Đánh giá thực trạng tại 10 Trung tâm GDNN - GDTX tỉnh Hòa Bình thông qua khảo sát 50 cán bộ, giáo viên, làm rõ những biến động lớn về cơ cấu nhân sự sau sáp nhập trong giai đoạn 2018 - 2020.
  • Lượng hóa chính xác các rủi ro nhân sự qua ma trận I = P x M, chỉ ra các nguy cơ nghiêm trọng (I ≥ 1,75) thuộc nhóm đổi mới phương pháp, tự học công nghệ số và mất cân đối cục bộ giảng viên thực hành.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, bao gồm đổi mới chính sách đãi ngộ, áp dụng quy trình ISO 31000:2018, bồi dưỡng kỹ năng số và tái cơ cấu định biên lao động.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho trên 47.000 học viên địa phương, bảo đảm an ninh nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế bền vững.

Về lộ trình triển khai tiếp theo, các trung tâm cần thí điểm áp dụng quy trình nhận diện rủi ro ISO 31000 trong 6 tháng đầu năm 2022, tiến tới nhân rộng toàn diện trên địa bàn 10 huyện, thành phố trước năm 2025. Các cấp quản lý giáo dục và nhà khoa học cần chủ động ứng dụng ngay khung phân tích này để nhận diện và triệt tiêu sớm các rủi ro nhân sự, bảo đảm sự phát triển ổn định của nền giáo dục nghề nghiệp địa phương.