CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÈ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG KINH DOANH VẬN TẢI LOGISTICS 1. Cơ sở lý thuyết về dịch vụ logistics ỉ. Khái niệm ơ Việt Nam, khái niệm về logistics được nêu khá chi tiết và được quy định rõ ràng trong bộ luật Thương mại 2005 và một số nghị định, thông tư liên quan. Trong khung khò pháp lý cho dịch vụ logistics ờ Việt Nam, điều 233 luật Thương mại 2005 so 36/2005/QH11, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, trong đó thương nhân sẽ thực hiện một hoặc nhiều việc như: Làm thủ ựic hãi quan, vận chuyên hàng hóa, hm kho, đóng gói, giao nhận hàng hóa,.
và các dịch vụ liên quan theo thỏa thuận với khách hàng. (Luật Thương mại 2005, so 36/2005/QH11, 2005) Ngoài ra dịch vụ logistics có thê hiêu là một dịch vụ bao gom tất cả các yếu tố trong chuỗi cung ứng, từ nhà máy đến khách hàng cuối cùng. Chúng bao gồm cả khâu vận chuyên từ nhà sản xuất đen kho, lưu kho và thực hiện đơn hàng cho đen khách hàng cuối cùng. Phân loại dịch vụ logistics Theo nghị định 140/2007/NĐ - CP, trong dịch vụ logistics có nhiều loại hình đa dạng, được phàn thành ba loại phô biến: Các dịch VỊ/ logistics chủ yếu: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm bốc xếp container; Dịch vụ kho bãi và hru trữ hàng hóa, bao gồm kinh doanli kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; dịch vụ đại lý vận tài, bao gồm hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và bốc dờ hàng; dịch vụ bô trợ khác.
Các dịch vụ logistics liên quan den vận tải: Dịch vụ vận tài hàng hải; Dịch vụ vận tải thủy nội địa; Dịch vụ vận tải hàng kliông; Dịch vụ vận tải đường sắt; Dịch vụ vận tài đường bộ; Dịch vụ vận tải đường ống. Các dịch vụ logistics liên quan khác: Dịch vụ kiêm tra và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ bưu chính; Dịch vụ thương mại bán buôn; Dịch vụ thương mại bán lé, bao 1 gồm hoạt động quân lý hàng hm klio, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; Các dịch vụ hỗ trợ vận tài kliác. Dịch vụ vận tải trong dịch vụ logistics Dịch vụ vận tải hàng hóa là một thòa thuận giữa hai cá nhân hoặc tô chức về vận chuyên hàng hóa từ địa diêm này sang địa diêm khác, hr nơi sàn xuất đến tay nhà phân phối hoặc đen thăng tay nhà tiêu dùng. Dịch vụ vận tải sẽ được thực hiện bang nhiều phương thức vận chuyên kliác nhau như vận tải đườn bộ, vận tải đường biên, vận tải đường sat và đường hàng không.
Dịch vụ vận tải hàng hóa có vai trò then chốt trong logistics, dựa vào phương thức vận chuyên có thê quyết định nhu cầu hàng tồn kho. Với hệ thống vận chuyên có tốc độ cao hoặc chi phí cao thì sẽ có ít hàng tồn kho hơn và ngược lại với hệ thống vận chuyên có chi phí thấp, tốc độ chậm thì cần phải trữ hàng tồn kho nliiều hơn. Ngoài ra quyết định phương thức vận chuyên cũng có anh hường đến quy cách đóng gói hàng hóa đê đảm bảo hàng hóa không bị hir hòng trong quá trình vận chuyên. Theo như quy định của Luật Thương mại 2005, tại điều 3 Nghị định 163/2017/NĐ-CP, dịch vụ vận tải hàng hóa được phân loại như sau: Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biên, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải điĩờng thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tãi đường sắt, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tài đường bộ, dịch vụ vận tải hàng không, dịch VỊI vận tài đa phương thức.
Cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh vận tải logistics ỉ. Khái niệm về rủi ro Có nliiều khái niệm về rủi ro, tùy thuộc vào quan diêm và cách tiếp cận về rủi ro. Theo tnrờng phái tiêu cực, rủi ro được hiêu theo nghĩa kliông may mắn, là sự mất mát, không an toàn. 2 Theo Từ điên Tiếng Việt do Trung tâm từ điên học Hà Nội xuất bản năm 1995 thì “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”.
Theo từ điên Oxford “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiêm hoặc bị đau đớn, thiệt hại. Đối với tác giả Hồ Diệu, ông cho rằng rủi ro trong kinh doanh là sự mất mát về mặt tài sàn hoặc sự sụt giảm lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận đã được dự kiến. (Vân, 2007) Như vậy, theo như những quan niệm truyền thống rủi ro được cho là sự không chắc chan, sự mat mát, sự nguy hiểm hoặc có những yếu tố làm thiệt hại đến tài sàn, tính mạng cùa con người. Theo tnrờng phái trung hòa, William và Micheal (C.
Arthur William, 1995)đã diễn giải về rủi ro như sau: Rủi ro là sự biến động tiềm ân ờ nliững kết quả. Đa phần rủi ro sẽ có mặt tại các hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực. Khi có rủi ro người ta không thê dự đoán được chính xác kết quả. Sự xuất hiện cùa rủi ro tạo nên sự bất ôn trong mọi dự đoán.
Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành dộng dân đến khả năng được hoặc mất không thê đoán tiước. Theo ISO 31000, Rủi ro được cho là ảnh hường cùa sự không chắc chan đến những mục tiêu đã đề ra. ISO đã nhận địnli ảnh hường ờ đây là sự sai biệt so với kỳ vọng - tích cực và tiêu cực. Các mục tiêu có thê thuộc các khía cạnh kliác như tài chính, môi trường, an toàn,.Và rủi ro thường được phân loại theo những sự kiện tiềm ân và hệ quả hoặc kết hợp cà hai.
Rủi ro thường được diên đạt bằng những thuật ngữ kết hợp giữa hệ quả cùa một sự kiện (bao gồm những thay đôi về hoàn cảnh) và kliả năng xảy ra có liên quan đen sự kiện. Một ý kiến khác cho rang rủi ro là sự sai biệt, không chắc chan. Cụ thê, theo như Investopedia thì “Rủi ro là một khả năng mà thu nhập thực te một khoản đầu tư sẽ khác với kỳ vọng”. Theo Phillipe Jorion thì “rủi ro được xem là sự biến động của những kết quà không kỳ vọng mà những kết quả này tiĩợng trưng cho giá trị của những tài sản, vốn chú sở hữu hay thu nhập”.
3 Tóm lại, hr những khái niệm trên có hai quan điêm về mi ro được hình thành. Phần lớn các khái niệm truyền thống cho rang mi ro có thê hiêu là sự bất trắc có thê đo lường được và không có tính đối xứng chi hiểu theo nghĩa hiĩ hại, tôn thất. Trong khi đó theo những quan điêm hiện đại thi rủi ro mang tính đối xứng, mi ro có thê vừa mang lại những tiêu cực cũng có thê mang lại những tích cực. Rủi ro có thê mang đến những mất mát, nguy hiêm,.
cho con ngirời nhưng cũng có thê mang đến những cơ hội. Neu tích cực nghiên cứu mi ro, nhận dạng, đo lường, người ta có thê tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực, nắm bat lấy cơ hội trong khó khăn đê thay đôi cục diện vấn đề mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai. Trong phạm vi nội dung bài thi tác giả sẽ sử dụng khái niệm theo quan diêm hiện đại. Rũi ro được nhìn nhận theo góc nhìn đối xứng, rủi ro có thê mang lại nhũng mat mát, nguy hiêm cho con người nhưng cũng có thê mang đen Cứ hội.
Phân loại rãi ro Có nhiều cách phân loại mi ro tùy vào góc độ tiếp cận và mục đích của việc phân loại. Dựa trên quan diêm Risk - development reward, rủi ro có thê phân loại đơn giản theo tầm quan trọng hay độ lớn của nó. Rủi ro có thê đo lường hay phân loại theo khả năng xảy ra và hệ quả. Sau đây là một số cách phân loại rủi ro phô biến: ỉ.
Theo tính chất khách quan cùa rủi ro Có hai loại là rủi ro thuần túy (Pure risk) và rủi ro suy tính hay rủi ro đầu cơ (Speculative risk). Rủi ro thuần túy là dạng mi ro tồn tại khi có nguy cơ tôn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời. Rủi ro thuần túy là khả năng thiệt hại hoặc không thiệt hại. Nói chung dạng mi ro này có thê được bảo hiểm nếu do ngẫu nhiên hoặc không cố ý.
Đây có thê là rủi ro liên quan đến cá nhân, tài sân hoặc trách nhiệm pháp lý. Rủi ro đầu cơ là khả năng gây ra thiệt hại hoặc thu lợi, không thê bảo hiểm. Đây là loại rủi ro tồn tại khi có một nguy cơ tôn thất song song với một cơ hội tìm 4 kiếm lợi nhuận. Đó là rủi ro liên quan đến quyết định lựa chọn của con người.
Theo phạm vi ánh hưởng Rủi ro được chia thành rủi ro số đông (rủi ro cơ bản, toàn cục), rủi ro xã hội và rủi ro bộ phận (mi ro riêng biệt), rủi ro cá nhân. Rủi ro bộ phận là những rủi ro xuất phát từ các bien cố chủ quan cùa từng cá nhân theo cà ve nguyên nhân và hậu quà. Rùi ro ành hưởng đến cá nhân, tác động tới một thành viên cùa xã hội (cá nhàn hay tô chức). Đây là loại mi ro có thê đa dạng hóa.
Rủi ro số đông là các mi ro gây ra các tôn thất chù quan theo nguồn gốc cùa rủi ro và theo kết quả xảy ra, không phải do cá nhân gây ra và hậu quả cùa nó ảnh hường đến số đông. Đây là loại rủi ro kliông thê đa dạng hóa hay gọi là rủi ro thảm họa. Theo ngnồn gốc phát sinh rủi ro (Vân, 2007) • Rủi ro do môi trường thiên nhiên Đây là rùi ro do các hiện tượng thiên nhiên như: Động đất, sóng thần, hạn hán, bão, lũ lụt,. Các rủi ro do các hiện tượng này thường mang thiệt hại lớn bề người và cùa.
Khiến doanh nghiệp hứng chịu các tôn thất nghiêm trọng. • Rủi ro do môi trường văn hóa Rủi ro do môi trường văn hóa là do sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức,. của dân tộc, quốc gia khác. Do đỏ gây nên những hành xử không phù hợp, làm tôn thất, thiệt hại, mất cơ hội kinh doanh.
• Rủi ro do môi trường xã hội Sự thay đôi các chuẩn mực giá trị, hành vi cùa con người, cấu trác xã hội, các định chế. là nguồn rủi ro quan trọng. Neu không nam được điều này doanh nghiệp có thê gánh chịu những thiệt hại nặng nề. Chăng hạn như: Kinh doanh tại Nhật nếu không biết những chuân mực xã hội như: Xem trọng tuôi tác, địa vị xã hội, trọng nam khinh nữ.