Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về QTCT và chức năng giám sát của HĐQT trong QTCT. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Thực trạng QTCT tập trung vào chức năng giám sát của HĐQT tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam.
Giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện chức năng giám sát của HĐQT tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến quản trị công ty được công bố.
Quản trị công ty cũng được đưa vào nghiên cứu giảng dạy tại nhiều trường đại học trong nước thể hiện vai trò quan trọng của nó trong cả lý thuyết và thực tiễn tại Việt Nam. Nhiều nghiên cứu tập trung về vai trò của HĐQT cũng chức năng giám sát của HĐQT công ty, như: “Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu HĐQT và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam giai đoạn 2010-2021” của Đỗ Mai Linh, 2024. Nghiên cứu chỉ ra số lượng thành viên HĐQT có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tỷ lệ thành viên độc lập tương quan âm với biến lợi nhuận trên tổng tài sản ROA nhưng lại tương quan dương với biến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP hầu như không có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. “Cạnh tranh thị trường dòng sản phẩm, giám sát của hội đồng quản trị, tác động đến tăng trưởng bền vững của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam” của Trần Thị Quỳnh Anh, 2023. Nghiên cứu giúp phát triển và kiểm định các mối quan hệ giữa cạnh tranh thị trường dòng sản phẩm, giám sát của HĐQT, tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp. Đồng thời xem xét vai trò trung gian giám sát của HĐQT, vai trò điều tiết của chiến lược cạnh tranh trong mối quan hệ cạnh tranh thị trường dòng sản phẩm và tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp ở Việt Nam.
“Quy định pháp luật về thành viên độc lập HĐQT ở Việt Nam” của Phạm Đăng Hoàng, 2023. Nghiên cứu đóng góp vào việc nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của cổ đông và doanh nghiệp, và gợi ý các giải pháp để hoàn thiện quy định pháp luật về thành viên độc lập HĐQT trong bối cảnh Việt Nam trên cơ sở chỉ ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về thành viên độc lập HĐQT 5 tại Việt Nam, và so sánh với các quy định tương tự tại Anh, Úc. “Tác động của đặc điểm HĐQT đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Việt Nam” của Phan Ngọc Huyền, 2022. Nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố thuộc đặc điểm HĐQT như số lượng thành viên HĐQT, sự kiêm nhiệm vị trí Tổng giám đốc và Chủ tịch HĐQT, HĐQT độc lập, số lần họp đều có tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận trong hai giai đoạn trước và sau Covid-19.
“Quản trị công ty”, Hoàng Văn Hải, Đinh Văn Toàn và cộng sự, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2018. Các tác giả đã đưa ra cách tiếp cận trực diện vào các yêu cầu và nội dung của quản trị công ty bao gồm khung lý thuyết và những kinh nghiệm thực tiễn, trở thành nguồn tham khảo cho những người nghiên cứu về kinh tế và quản trị, các nhà điều hành doanh nghiệp. Tình hình nghiên cứu ngoài nước “HĐQT và sự đổi mới của doanh nghiệp: Đánh giá phân tích tổng hợp” của Sierra-Morán, J. và cộng sự, 2024.
Nghiên cứu chỉ ra rằng một số khía cạnh của HĐQT, như tần suất họp và tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và người ngoài, cho thấy mối tương quan đáng kể đối với sự đổi mới của công ty, nhưng mức độ liên kết khác nhau tùy thuộc vào việc đổi mới được đo lường như đầu vào hay đầu ra, và tùy thuộc vào mẫu được xem xét và phương pháp được sử dụng. “Vai trò của HĐQT với mối liên hệ chính trị trong việc tăng giá trị doanh nghiệp” của Idris F. và cộng sự, 2020. Nghiên cứu này xem xét tác động của HĐQT độc lập, thù lao người quản lý và các mối quan hệ chính trị đối với hiệu quả hoạt động của công ty tại Indonesia.
Nghiên cứu đã chỉ ra một HĐQT độc lập có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty. Trong khi đó, thù lao người quản lý có thể mang lại động lực để tăng giá trị công ty nhưng lại có những động lực khác trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động của công ty. Trong khi đó, các mối quan hệ chính trị có thể cải thiện hiệu suất và giá trị của công ty. Vì vậy, nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh nghiệm và mối quan hệ của thành viên HĐQT trong việc nâng cao giá trị của công ty.
“Tìm hiểu về quản trị công ty của HĐQT tại các DNNN tại Trung Quốc” của Lu Z. Dựa trên các lý thuyết liên quan về quản trị doanh nghiệp và 6 nền tảng thể chế đặc biệt của các DNNN tại Trung Quốc, nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả quản trị của HĐQT các DNNN được thúc đẩy bởi đặc điểm kép: sự tham gia của nhà nước vào sở hữu và khuyến khích thị trường. Các thành viên HĐQT độc lập, đặc biệt là những người có nền tảng chuyên môn, cũng đóng vai trò trong việc cải thiện quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thành viên độc lập trong DNNN có động lực giám sát tương đối yếu, điều này làm hạn chế hiệu quả quản trị của họ.
Nghiên cứu cho thấy những hàm ý tích cực trong việc thúc đẩy cải cách sở hữu hỗn hợp và cải thiện quản trị hội đồng quản trị trong DNNN. “Vai trò của HĐQT tại các doanh nghiệp dầu khí Canada trong quá trình chuyển đổi năng lượng bền vững” của Echegaray A. Nghiên cứu đã đánh giá đặc điểm của thành viên HĐQT của 05 doanh nghiệp dầu khí lớn nhất Alberta, Canada có tác động thế nào tới quản trị công ty và việc thực hiện những biện pháp làm giảm tác động từ carbon. Nghiên cứu chỉ ra, HĐQT cần có sự xem xét đặc biệt về ‘mối quan hệ mạng xã hội của thành viên HĐQT.
Bởi, điều đó chứng minh mối tương quan giữa các thành viên HĐQT với cộng đồng, chính phủ và các tổ chức xã hội khác về các thông tin về biến đổi khí hậu hay quản trị rủi ro môi trường. Thông qua các nghiên cứu về quản trị công ty trong nước và quốc tế mà tác giả tiếp cận được, có thể nhận dạng ra một số khoảng trống nghiên cứu. Thứ nhất, các nghiên cứu về quản trị công ty tại Việt Nam chủ yếu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về đặc điểm của HĐQT nói chung hoặc tổng quan lý thuyết về quản trị công ty cũng như các mối quan hệ trong quản trị công ty mà chưa có nghiên cứu sâu về những nội dung nằm trong quản trị công ty. Đặc biệt, số công trình nghiên cứu thực tiễn quản trị công ty trong công ty cổ phần có vốn nhà nước, hoặc doanh nghiệp thuộc lĩnh vực năng lượng là rất ít, gần như không có.
Thứ hai, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về quản trị công ty trong doanh nghiệp nhà nước và quản trị công ty trong doanh nghiệp dầu khí, tuy nhiên, mức độ nghiên cứu vẫn chủ yếu nghiên cứu về vai trò của HĐQT và các thành viên trong HĐQT mà chưa đề cập sâu đến các nội dung trong quản trị công ty. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản trị công ty tại Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam”, với phạm vi nghiên cứu tập trung vào chức năng giám sát của HĐQT, sẽ giải quyết khoảng trống nghiên cứu bao gồm việc nghiên cứu 7 về một trong các nội dung của quản trị công ty, và nghiên cứu thực tiễn tại công ty cổ phần có vốn sở hữu Nhà nước tại Việt Nam. Cơ sở lý luận về quản trị công ty và Hội đồng quản trị 1. Khái luận về quản trị công ty 1.
Khái niệm về quản trị công ty Thuật ngữ “Quản trị công ty” được định nghĩa có thể theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng. Nghĩa hẹp là quan hệ của một doanh nghiệp với cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của doanh nghiệp với xã hội, nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm (Hoàng Văn Hải, Đinh Văn Toàn và cộng sự, 2018). Khái niệm quản trị công ty là một triết lý quản lý nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động được thực hiện bởi công ty bao gồm các cổ đông và tiết lộ nghĩa vụ quản lý kinh doanh trong bất kỳ doanh nghiệp nào (Shleifer và Vishny, 1997). Các thành tố cơ bản của quản trị công ty bao gồm quản trị công ty và các lý thuyết quản lý (Dereköy, 2015).
Mục đích chính của quản trị công ty là đảm bảo rằng các báo cáo đầy đủ và chính xác về thực tế tình hình tài chính của doanh nghiệp được thực hiện kịp thời và ban giám đốc làm việc để tìm kiếm lợi ích của cổ đông nói riêng (Koçel, 2011). Eells (1960) đưa ra khái niệm quản trị công ty đầu tiên với ý nghĩa “hệ thống và tổ chức các chính sách của doanh nghiệp”. Becht và cộng sự (2002) thì nhìn nhận quản trị công ty là “quan tâm đến việc giải quyết các vấn đề nảy sinh giữa một số lượng lớn các nhà đầu tư và giải quyết những xung đột về quyền lợi giữa các cổ đông khác nhau”. Khái niệm hẹp hơn đưa ra bởi Shleifer và Vishny (1997) mô tả quản trị công ty là phương tiện để những nhà đầu tư vào doanh nghiệp yên tâm việc khoản đầu tư của họ sẽ mang lại lợi nhuận.
Theo Keay và cộng sự (1997), quản trị công ty bao gồm tổ chức, vận hành, kiến tạo văn hóa và bộ máy để hoạt động doanh nghiệp hiệu quả. Để đạt được thành công cho tổ chức, Aguilera và cộng sự (2003) cho rằng, quản trị công ty cần đảm bảo việc người quản lý tôn trọng mọi quyền và lợi ích của các bên liên quan, đồng thời để các các bên liên quan chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình làm sao để bảo toàn, gia tăng lợi nhuận và phân phối khoản thu đã đầu tư vào doanh nghiệp.