Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp sản xuất. Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam. 5 Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam. Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Quản trị doanh nghiệp với mô hình hoạch định và kiểm soát Người ta đã tổng kết được rằng ở các nước đang phát triển, sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật không thể đưa đến sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp nếu không quan tâm thích đáng đến yếu tố con người. Nói cách khác, nếu quản trị yếu kém thì dù các nguồn lực có phong phú và giàu có đến mấy đi nữa, cuối cùng cũng sẽ thất bại. Quản trị là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi có một nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung.
Xã hội càng phát triển, con người càng có nhu cầu phải hợp tác với nhau để hoàn thành các công việc chung, nếu không tự bản thân các cá nhân không thể thực hiện được. Phân công lao động càng phát triển thì các nỗ lực hợp tác càng gia tăng và yêu cầu về sự phối hợp các hoạt động này để hoàn thành mục tiêu chung càng lớn. Do vậy hoạt động quản trị ngày càng được coi trọng. Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị đến đối tượng quản trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách có hiệu quả trong những điều kiện biến động của môi trường kinh doanh.
Quá trình quản trị doanh nghiệp là chu trình khép kín bao gồm các giai đoạn: xác định mục tiêu, lập kế hoạch để thực hiện các mục tiêu, tổ chức thực hiện kế hoạch, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch rồi quay lại giai đoạn xác định mục tiêu cho kỳ tiếp sau. Các giai đoạn của chu trình quản trị được thể hiện qua sơ đồ 1. Xác định mục tiêu Giai đoạn này nhà quản trị phải xây dựng các mục tiêu phải đạt trong từng khoảng thời gian nhất định. Các mục tiêu cụ thể này thường là một phần trong mục tiêu tổng thể, nó thường mang tính hoạch định hơn là nhằm cải thiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Lập kế hoạch 6 Khi các mục tiêu đã được xác định, giai đoạn tiếp theo là nhà quản trị xác định các đường đi khác nhau để đạt được mục tiêu. Để ra được quyết định là nên chọn đường đi nào nhà quản trị phải thu thập các thông tin cả về mặt định lượng và định tính về chúng. Khi thông tin đã được thu thập thì đường đi tốt nhất để đạt được mục tiêu sẽ được lựa chọn và các kế hoạch được xây dựng trên cơ sở đường đi đó. Thực hiện kế hoạch Một khi đường đi của mục tiêu đã được xác định, các kế hoạch để thực hiện mục tiêu đã được thiết lập thì giai đoạn tiếp theo là thực hiện kế hoạch.
Trong giai đoạn này nhà quản trị phải liên kết tốt nhất các nguồn lực sao cho các kế hoạch được thực hiện ở mức độ cao nhất và hiệu quả nhất. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch Nhà quản trị sau khi đã lập kế hoạch đầy đủ, hợp lý, tổ chức thực hiện kế hoạch, đòi hỏi phải đánh giá việc thực hiện kế hoạch bằng cách so sánh kết quả thực hiện với các kế hoạch đã xây dựng. Giai đoạn này của chu trình có thể được xem như là sự xem lại hoặc kiểm soát sau khi thực hiện. Trước khi kết quả được so sánh, thông tin về kết quả chúng phải được thu thập cả về mặt định lượng và định tính.
Những kết quả sau khi được so sánh với những mục tiêu ban đầu, nhà quản trị có thể ra thêm các quyết định để điều chỉnh các hoạt động đang thực hiện. Xác định mục tiêu Lập kế hoạch Thực hiện kế hoạch Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn của chu trình quản trị Nguồn: Giáo trình Kế toán quản trị doanh nghiệp 2007- Học viện tài chính Nếu chỉ xét trên góc độ hoạch định và kiểm soát thì nhiệm vụ của hoạch định và kiểm soát được thể hiện qua các bước công việc trong từng giai đoạn của chu trình quản trị theo sơ đồ 1. Xác định mục tiêu Xác định các đường đi khác nhau Hoạch định để thực hiện mục tiêu Thu thập thông tin về các đường đi khác nhau Lựa chọn đường đi tốt nhất (xây dựng kế hoạch trên cơ sở đường đi tốt nhất) Tổ chức thực hiện kế hoạch Kiểm soát Kiểm soát các kết quả thực hiện Xử lý các sai lệch so với kế hoạch 7 Sơ đồ 1.2: Nhiệm vụ hoạch định và kiểm soát trong từng bước công việc của chu trình quản trị Nguồn: Giáo trình Quản trị thực hiện ACCA Sơ đồ 1.2 thể hiện rất rõ nhiệm vụ hoạch định và kiểm soát trong từng bước công việc của chu trình quản trị. Tuy vậy, có rất nhiều nhà kinh tế học trong đó có Giáo sư, tiến sỹ Robert Anthony nhấn mạnh rằng: “Mặc dù có thể xác định những kiểu khác nhau của hoạt động tinh thần mà được yêu cầu cho các quyết định kiểm soát và hoạch định, nhưng là sai lầm để cho rằng những hoạt động này có thể tách ra rõ ràng trong thực hành.
Tất cả các nhà quản trị đều đưa ra cả các quyết định hoạch định và kiểm soát. Một quản đốc mà không bằng lòng với những con số sản xuất trong khu vực của anh ấy có thể xem lại những quyết định trong tương lai (quyết định hoạch định) cũng như thực hiện các hoạt động thúc đẩy phân xưởng của anh ấy thực hiện tốt hơn trong tương lai (quyết định kiểm soát). Những nơi có sự tham gia của hoạt động quản trị, các quyết định hoạch định và kiểm soát được giới hạn trong phạm vi liên quan.25] Anthony cũng chỉ ra ba cấp độ của hoạt động quản trị đó là: hoạch định chiến lược, hoạch định chiến thuật (kiểm soát quản trị), kiểm soát tác nghiệp. Trong đó: Hoạch định chiến lược là quá trình ra các quyết định về mục tiêu của doanh nghiệp; những thay đổi trong mục tiêu của doanh nghiệp; sử dụng các nguồn lực để đạt được những mục tiêu đó; những chính sách quản lý như chính sách mua lại công ty, chính sách sử dụng các nguồn lực… Hoạch định chiến thuật (kiểm soát quản trị) là quá trình các nhà quản trị bảo đảm rằng các nguồn lực đạt được và được sử dụng có hiệu quả và hiệu lực để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
Kiểm soát tác nghiệp là quá trình nhà quản trị đảm bảo các nhiệm vụ cụ thể được thực hiện một cách có hiệu quả và hiệu lực. Ba cấp của hoạt động quản trị được mô tả bởi Anthony được có thể được minh hoạ theo sơ đồ 1.3: Mức chiến lược Mức chiến thuật Mức tác nghiệp 8 Sơ đồ 1.3: Tháp hình chóp các cấp độ của hoạt động quản trị Nguồn: Giáo trình Quản trị thực hiện ACCA, tr.27 Cần phải chú ý rằng trong sơ đồ này mỗi cấp độ của hoạt động quản trị không nhất thiết liên quan đến một bộ phận cụ thể nào đó trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp ví dụ những nhân viên liên quan chủ yếu đến các hoạt động ở mức chiến thuật có thể cũng tham gia vào những quyết định chiến lược và có thể cũng có nhiệm vụ ở mức tác nghiệp thường ngày của mình. Cả ba cấp của hoạt động quản trị liên quan đến cả nhiệm vụ hoạch định và kiểm soát. Tuy nhiên, tại mức hoạch định chiến lược thì nhiệm vụ hoạch định được nhấn mạnh còn ở mức tác nghiệp thì nhiệm vụ kiểm soát là chủ yếu.3 có thể được mở rộng thành sơ đồ 1.
Chiến lược Các hoạt động hoạch định Chiến thuật Các hoạt động Tác nghiệp kiểm soát Sơ đồ 1.4: Các cấp độ của hoạt động quản trịvới nhiệm vụ hoạch định và kiểm soát Nguồn: Giáo trình Quản trị thực hiện ACCA 1. Các loại kiểm soát trong doanh nghiệp. Mô hình hoạch định và kiểm soát trong quản trị doanh nghiệp đã khẳng định nhiệm vụ của kiểm soát trong tất cả các giai đoạn của chu trình quản trị doanh nghiệp. Để hiểu rõ hơn nhiệm vụ này ta tiến hành phân loại kiểm soát theo các tiêu thức khác nhau.
Phân loại theo nhiệm vụ của kiểm soát trong các cấp quản trị doanh nghiệp Căn cứ vào nhiệm vụ của kiểm soát trong các cấp quản trị doanh nghiệp, kiểm soát được chia thành kiểm soát quản trị và kiểm soát tác nghiệp, trong đó: * Kiểm soát quản trị Kiểm soát quản trị là quá trình các nhà quản trị bảo đảm rằng các nguồn lực đạt được và được sử dụng có hiệu quả và hiệu lực để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. 9 Có hiệu lực là các nguồn lực được sử dụng để đạt được các mục đích mong muốn. Có hiệu quả có nghĩa là đạt được kết quả tốt nhất (sản lượng tối ưu) từ những nguồn lực đầu vào. Các quyết định kiểm soát quản trị rất đa dạng bao gồm quyết định định giá, quảng cáo, thúc đẩy bán hàng, mua sắm và lựa chọn nhà cung cấp, mức tồn kho, quyết định thay thế tài sản cố định… Những quyết định này thường được căn cứ vào sự phân tích tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và tiền trở thành đơn vị chung để đo lường các nguồn lực.
Hệ thống kiểm soát là những báo cáo thực hiện liên quan đến các trung tâm chi phí, doanh thu, lợi nhuận. Những báo cáo này là sự tóm lược của nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau. Kiểm soát chi tiết về mỗi hoạt động riêng lẻ sẽ được thực hiện ở mức tác nghiệp. * Kiểm soát tác nghiệp Kiểm soát tác nghiệp là quá trình các nhà quản trị đảm bảo các nhiệm vụ cụ thể được thực hiện một cách có hiệu quả và hiệu lực.
Hoạt động kiểm soát này có thể được thực hiện thông qua con người hoặc chương trình tự động. Khi càng nhiều nhiệm vụ được tự động hoá thì nhân tố con người trong kiểm soát tác nghiệp càng trở thành ít quan trọng hơn. Thường ở những nơi mà mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra được xác định rõ ràng thì nhiều nhiệm vụ được kiểm soát theo chương trình tự động.