CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUÁ HOẠT ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ DOANH NGHIỆP THẤM ĐỊNH GIÁ 1. 1 Doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thẫm định giá 1.1 Khái niệm doanh nghiệp và doanh nghiệp tham định giá Thực tế có rất nhiều quan niệm, các định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, doanh nghiệp thâm định giá cụ thể: * Doanh nghiệp: - Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, tru sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhăm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [14]. - Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế 2005: “Doanh nghiệp là một tổ chức thương mại, công nghiệp, dịch vụ hay đầu tư đang theo đuôi một hoạt động kinh tế” [7]. Vậy, doanh nghiệp là đơn vị kinh tế quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhăm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
* Doanh nghiệp thấm định giá: - Theo quy định tại Điều 3, Nghị định 89 ngày 6/8/2013 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Luật giá về thâm định giá thì: “Doanh nghiệp thắm định giá là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp và được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thâm định giá theo quy định của pháp luật” [2]. Để được cấp phép và đi vào hoạt động, doanh nghiệp thâm định giá phải có tối thiểu 03 thẩm định viên về giá trở lên, trong đó người đại diện theo pháp luật bắt buộc phải là người có thẻ thâm định viên về giá do Bộ Tài chính cấp.Seabrooke - Viện Đại học Portsmouth, Vương quốc Anh thì: “Thâm định giá là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”, còn theo quan điểm của Giáo sư Lim Lan Yuan - Trường Xây dựng và Bất động sản Singafore thì: “Tham định giá là một 7 nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thê tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường, bao gồm các loại đầu tư lựa chọn ”[7, tr. Nhìn chung, Tham định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuan của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế nhăm các mục đích cụ thé như: xác định giá trị tài sản mua sắm từ nguồn vốn Nhà nước; xác định giá trị tài sản dé góp vốn, cô phần hóa doanh nghiệp, thế chấp, mua bán, chuyền nhượng tài sản, tai sản trong việc thi hành án.15-16] Vì vậy, việc xác định đúng các giá tri của các nguồn lực, từng loại hình tải sản thuộc nguồn lực này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý, sử dụng tài sản, có thé coi thẩm định giá là một trong những công cụ góp phan dé cơ chế thị trường tự động phân bồ tối ưu các nguồn lực và nền kinh tế đạt hiệu quả Pareto đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, của nền kinh tế, hạn chế thất thoát ngân sách, tiêu cực, nâng cao khả năng cạnh tranh, minh bạch hóa thị trường. Số lượng doanh nghiệp và thẩm định viên tăng qua các năm, cụ thé như sau: Tính đến T9/2013, cả nước có 706 người được Bộ Tài chính cấp Thẻ thẩm định viên về giá (chưa kê số lượng thí sinh đủ điều kiện cấp Thẻ thẩm định viên về giá sau ky thi năm 2013) và có 599 thấm định viên đăng ký hành nghề thâm định giá được Bộ Tài chính thông báo có đủ điều kiện hoạt động thâm định giá.
Số lượng doanh nghiệp thâm định giá năm 2013 đã tăng thêm 37 doanh nghiệp, đạt tỷ lệ tăng 37,8% so với năm 2012 và tăng 207% so với năm 2009. Giai đoạn 2013-2015 dự kiến cả nước có khoảng 1.400 thâm định viên về giá đủ điều kiện hành nghề theo quy định và 2015- 2020 số lượng này ở con số 2. Hoạt động thầm định giá của xã hội tập trung chủ yếu vào các loại tài sản bất động sản, máy móc, thiết bị. Số lượng các hợp đồng thâm định giá các tai sản nói trên chiếm từ 80-90% tổng số hợp đồng thẩm định giá của các doanh nghiệp; chiếm từ 10- 20% còn lại là các hợp đồng thâm định giá trị doanh nghiệp, hợp đồng thâm định các loại tài sản khác như y dụng cụ y tẾ, hàng may mặc, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm.
Giá trị tai sản thẩm định tăng nhanh qua các năm, trong đó năm 2011, giá tri 8 tài sản thẩm định từ nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm 19,8% từ nguồn vốn khác chiếm 80,2% [2,tr. Doanh thu từ hoạt động thâm định giá tại các doanh nghiệp thầm định giá, doanh nghiệp có chức năng thâm định giá cũng tăng nhanh và đều qua các năm, hoạt động thẩm định giá của các doanh nghiệp trong ba năm gan đây hầu hết có lợi nhuận dương, cho thấy nhu cầu thâm định giá của xã hội ngày càng lớn. Tuy nhiên việc thành lập của hàng loạt công ty thâm định giá trong thời gian gần đây đã dẫn đến việc cạnh tranh gay gắt trong ngành dịch vụ này, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp không ngừng đôi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.2 Bản chất hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đo lường bằng nhiều tiêu chí khác nhau nhưng hiệu quả kinh doanh là thước đo chủ yếu. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nảy như: - Hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế.
- Hiệu quả kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả. Day là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế. - Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra. Quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu quả kinh tế của các quá trình sản xuất kinh doanh.
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các yếu tô khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra. Theo cách hiểu thông thường thì hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra của một quá trình, nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh: H = Kết quả đầu ra — Chi phi đầu vào. Công thức này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn đề thu được kết quả cao hơn tức là đã có một sự xuất hiện của gia tri gia tăng với diéu kién H1, H cang lon càng chứng tỏ quá trình dat hiệu quả càng cao. Dé tăng hiệu qua (H) chúng ta có thé sử dụng những biện pháp như: Giảm đầu vào, đầu ra không đổi hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng đầu ra hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra.
Từ khái niệm về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh nói riêng đã phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động SXKD là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, vốn.) dé đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó chính là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Dé hiểu rõ vai trò của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, ta cũng cần phân biệt giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động kinh doanh. Kết quả kinh doanh là những gi doanh nghiệp dat được sau một quá trình kinh doanh nhất định, kết quả đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Trong khi đó khái niệm về hiệu quả kinh doanh cần phải sử dung cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí dé đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Vì thế, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay chính xác hon là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí dé tạo ra nguồn lực và chi phi sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá tri của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh công việc kinh doanh khác dé thực hiện hoạt động kinh doanh nay. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kết toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực sự.
Các tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả cao hơn.3 Phân loại hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh té tong hop duoc tao thanh boi tat cả các yếu tô của qua trình SXKD. Nó bao gồm: + Hiệu quả kinh tế (tài chính): có ý nghĩa quyết định, thường được các nhà quản trị quan tâm, nó là thái độ giữ gìn và phát triển nguồn vốn chủ sở hữu. Một doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao là điều kiện cho doanh nghiệp tăng trưởng. 10 + Hiệu quả xã hội: Gồm các khoản đóng góp vào Ngân sách Nhà nước (thuê), việc thực hiện các sản phẩm, dịch vụ công ích (sản phẩm, dịch vụ công) và các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Hiệu quả kinh tế và hiệu qủa xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hiệu quả kinh tế là tiền đề, là cơ sở để đạt được hiệu quả xã hội và ngược lại hiệu quả xã hội tác động ngược trở lại dé hoạt động kinh doanh cua công ty thêm hiệu quả. Vai trò, ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1.