Chương I: Cơ sở lý thuyết. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong những nghiên cứu trước đây, đề tài về sự ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp là chủ để chính của rất nhiều nghiên cứu trong nhiều năm qua ở nhiều nước khác nhau.
Phương thức. nghiên cứu đối với mối tương quan giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi cho thấy rằng chu kỳ luân chuyển tiền càng dài sẽ có xu hướng làm giảm khả năng sinh lợi (Deloof, 2003; Padachi, 2006; Mohamad và Saad, 2010). Di đó có nghĩa là giảm đầu tư vào vốn luân chuyển sẽ ảnh hưởng tích cực lên khả năng sinh lợi thông qua việc giảm tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản. Hầu hết các nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có thẻ gia tăng khả năng sinh lợi bằng cách rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền bởi vì họ đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến mạnh mẽ giữa hai biến số này.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu đề có được những cơ sở lý thuyết về sự ảnh hưởng của QTVLC đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp, tác giả tham khảo nhiều tài liệu nghiên cứu như nghiên cứu “Working Capital Management and Firm Profitability: Empirical Evidence from Manufacturing and Construction Firms”của Daniel Mogaka Makori (2013) cho thấy nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của QTVLC, nó ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Để có được những cơ sở lý luận về quản trị vốn luân chuyền, tác giả đã tham khảo giáo trình “Working Capital Management” của Lorenzo A. Preve Virginia Sarria- Allende và cộng sự (2010) và giáo trình “Working Capital Management - theory and stratetry " của Robert Alan Hill (2006). Trên cơ sở lý luận về QTVLC, và hiểu biết được tầm quan trọng của QTVLC đối với khả năng sinh lợi doanh nghiệp, tác giả sử dụng mô hình của Sajid Gul và cộng sự (2013) trong “Working Capital Management and Performance of SME Sector”.
Trong mô hình này có các nhân tố trong QTVLC như chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền bình quân, kỳ chuyển hóa tồn kho, kỳ thanh toán nợ phải trả ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Khả năng sinh lợi doanh nghiệp trong nghiên cứu được đánh giá bằng chỉ tiêu ROA. Izadinia va Taki (2010), Mathuva (2010) cũng tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa chu kỳ luân chuyền tiền và lợi nhuận gộp biên. Makori và Jagongo (2013) cũng khẳng định rằng có một mối quan hệ tiêu cực giữa khả năng sinh lợi và kỳ thu tiền bình quân và chu kỳ luân chuyển tiền, nhưng lại có mối quan hệ tích cực giữa khả năng sinh lợi và kỳ chuyển hóa tồn kho và kỳ thanh toán nợ phải trả.
Hơn nữa, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, quy mô doanh nghiệp cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lợi của công ty. Công ty có thể tạo ra giá trị cho các cô đông bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân, tăng kỳ chuyển hóa tồn kho đến một mức độ hợp lý, kéo dài thời gian trả nợ nhưng không đừng làm gia tăng căng thẳng mối quan hệ của họ với các chủ nợ. Rezazadeh và Heydarian (2010) điều tra các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran trong những năm 1998-2007. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có một mi liên quan giữa khả năng sinh lợi và kỳ phải luân chuyển hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân.
Giảm lượng hàng tồn kho và rút ngắn thời gian khoản phải thu sẽ cải thiện khả năng sinh lợi của công ty. Bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, sử dụng dữ liệu của 45 công ty trong lĩnh vực công nghiệp tại Jordan. Kết quả nghiên cứu cho biết đòn bẩy tài chính và quy mô. doanh nghiệp có liên quan đáng kể đến khả năng sinh lợi.
Tuy nhiên, quản trị vốn luân chuyển không có tác động đáng kẻ đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA). Va Gill va Biger (2010) cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyền và khả năng sinh lợi của 88 công ty ở Mỹ được niêm yết trên sản chứng khoán New York. Sử dụng dữ liệu giai đoạn 2005-2007, các tác giả không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa kỳ thanh toán bình quân, kỳ chuyển hóa hàng tồn kho và khả năng sinh lợi công ty. Tương tự như vậy, họ còn cho rằng không có mối liên quan giữa quy mô doanh nghiệp và khả năng sinh lợi nhưng nhận thấy một mối liên hệ tiêu cực giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lợi.
Nó cho thấy rằng các nhà quản lý có thể nâng cao khả năng sinh lợi của các công ty của họ bằng cách giảm số ngày thu từ khách hàng. Mansoori và Muhammad (2012) đã nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi công ty bằng cách nghiên cứu tác động của quản trị vốn luân chuyên đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp gồm dữ liệu của các công ty trên sản chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2001-2008 Trong nghiên cứu này, các biến phụ thuộc là lợi nhuận trên tổng tài sản được coi là một tiêu chí đo lường khả năng sinh lợi. Kết quả cho thấy có một mối quan hệ ngược chiều giữa các chu kỳ luân chuyển tiền với lợi nhuận trên tài sản. Ngoài ra, họ bày tỏ rằng đầu tư cao trong hàng tồn kho và các khoản phải thu sẽ dẫn đến khả năng sinh lợi thấp.
Gill va cOng sy (2010) cũng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của 88 công ty Mỹ được niêm yết trên sản chứng khoán New York. Sử dụng dữ từ 2005-2007, các tác giả không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa kỳ thanh toán nợ phải trả, kỳ chuyển hóa hàng tồn kho và khả năng sinh lợi công ty. Tương tự như vậy, họ còn cho rằng không có mối liên quan giữa quy mô doanh nghiệp và khả năng. sinh lợi nhưng nhận thấy một mối liên hệ tiêu cực giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lợi.
Nó cho thấy rằng các nhà quản lý có thể nâng cao khả năng sinh lợi của các công ty của họ bằng cách giảm số ngày phải thu từ khách hàng. Rezazadeh và Heydarian (2010) điều tra các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran trong những năm 1998-2007. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có một mối liên quan giữa khả năng sinh lợi và kỳ chuyên hóa tồn kho, kỳ thu tiền bình quân. Giảm lượng hàng tồn kho và rút ngắn thời gian phải thu khách hàng sẽ cải thiện khả năng sinh lợi của công ty.
Mathuva (2010) xem xét ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp với mẫu gồm 30 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Nairobi (NSE) cho giai đoạn 1993 - 2008. Nghiên cứu này chỉ ra rằng có tồn tại một mối quan hệ ngược chiề át đáng kể giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lợi. Thực tế là các công ty có khả năng sinh lợi cao hơn có thời gian thu tiền ngắn từ khách hàng. Azam va Haider (2011) da tién hành một nghiên cứu về tác động của công tác quản trị vốn luân chuyển đến hiệu suất của các công ty cho các tổ chức phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi trong khoảng thời gian của năm từ năm 2001 đến năm 2010.
Bằng cách sử dụng phân tích tương, quan xác định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu suất của doanh nghiệp. Vòng quay hàng tồn kho có một mối quan hệ ngược chiều với cả hai chỉ số lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, có nghĩa là khả năng sinh lợi công ty có thể được tăng lên bằng cách giảm hàng tồn kho. Nghiên cứu này cho thấy rằng nếu khoảng thời gian thanh toán cho nhà cung cấp tăng lên dẫn đến khả năng sinh lợi được cải thiện. Chu kỳ luân chuyển tiền cho thấy mối quan hệ ngược chiều đáng kể đến khả năng sinh lợi trên tài sản.
Sharma va Kuma (2011) kiểm tra tác động của quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lợi của các công ty An Độ. Với mẫu 263 công ty phi tài chính niêm yết trên Bombay giai đoạn 2000-2008 và sử dụng phương pháp hồi quy OLS. Kết quả cho thấy rằng quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi có mối quan hệ tương quan. Nghiên cứu thêm cho thay ky chuyển hóa tồn kho và kỳ thanh toán nợ phải trả tỉ lệ nghịch với khả năng sinh lợi, trong.
khi đó kỳ thu tiền bình quân có mối quan hệ tương quan thuận với khả năng sinh lời của công ty. Pouraghajan và Emamgholipourarchi (2012) nghiên cứu tác động của quản trị vốn luân chuyền đến khả năng sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tehran giai đoạn 2006 - 2010. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các biến: lợi nhuận trên tài sản và lợi nhuận trên vốn đầu tư để đo lường khả năng sinh lợi và các biến đo lường giá trị thị trường của công ty. Biến chu kỳ luân chuyển tiền, tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản, nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản phản ánh chỉ tiêu quản tri vốn luân chuyển.
Các kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng có một mối quan hệ có ý nghĩa giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty, nhưng không có mối quan hệ tương quan đến tiêu chí về giá trị thị trường của công ty. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có thể tăng khả năng sinh lợi của công ty thông qua việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền và tỉ lệ tổng nợ trên tổng tài sản. Taani (2012) xác định tác động của quản trị vốn luân chuyển và đòn bẩy tài chính đến hiệu quả tài chính của các công ty bởi biến thu nhập ròng, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lợi trên tài sản. Bằng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, sử dụng dữ liệu trên 45 công ty trong lĩnh vực.
công nghiệp tại Jordan. Kết quả nghiên cứu cho biết quản trị vốn luân chuyển, đòn bẩy tài chính và quy mô doanh nghiệp có liên quan đáng kể đến thu nhập ròng. Tuy nhiên, quản trị vốn luân chuyển không có tác động đáng kẻ đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tài sản.