CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn Khái niệm Điều 112 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp thì tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền và các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có khả năng chuyển đổi.
thành tiền mặt và có thể được bán hoặc sử dụng trong khoảng thời gian không quá 12 tháng hoặc trong chu kỳ hoạt động bình thường của công ty tại thời điểm khai báo. Ngoài ra, Điều 81 Thông tư 133/2016/TT-BTC ngày 16/8/2016 hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đưa ra định nghĩa về tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị tài sản. Tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác có thể được bán hoặc sử dụng trong vòng 12 tháng hoặc một chu kỳ hoạt động của các hoạt động kinh doanh thông thường tại ngày của bảng cân đối kế toán. Tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp hiện nay rất quan trọng bởi khoản mục này thường được các chủ doanh nghiệp sử dụng rất thường xuyên.
Những tài sản ngắn hạn này thường được dùng để chi trả các chi phí phát sinh khác nhau trong quá trình vận hành của các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ lệ tương đối cao trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Chính vì thế, việc hiệu quả sử dụng và sử dụng tài sản như thế nào cho hợp lý có tác động rất quan trọng đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tài sản ngắn hạn cũng là thước đo phản ánh tình hình biến động về kinh doanh của một doanh nghiệp.
Đặc điểm Trong doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được phân bổ trong tất cả công đoạn, các khâu của hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất, kinh doanh diễn ra được ổn định, liên tục và tiết kiệm. Do vậy, đặc điểm của tài sản ngắn hạn là vận động không ngừng, luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các khâu và giá trị tài sản ngắn hạn được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị hàng hóa khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, vì có tính lỏng nên tài sản ngắn hạn dễ dàng đáp ứng các khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tuy nhiên có thể chuyển hóa linh hoạt từ vật chất sang dạng tiền tệ nên tài sản ngắn hạn cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý. Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có những đặc điểm như sau: − Quá trình sản xuất kinh doanh là một chuỗi các quy trình, trong đó tài sản ngắn hạn luôn luôn chuyển hóa không ngừng giúp cho chu trình sản xuất hoạt động trơn tru và liên 1 tục.
Vì là ngắn hạn nên khoản mục có thể được chuyển hóa từ tiền tệ sang vật chất và ngược lại. Đặc biệt mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có những hình thái về tài sản ngắn hạn là không giống nhau. − Tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp với tư cách là tư liệu lao động hay đối tượng lao động. − Tài sản ngắn hạn liên tục thay đổi hình thức thể hiện trong các giá đoạn của quá trình kinh doanh để phù hợp và đáp ứng cho quá trình sản xuất kinh doanh.
− Tài sản ngắn hạn tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, có tính thanh toán cao, dễ quy đổi và có thời hạn luân chuyển ngắn, được sử dụng để sinh lời, được sử dụng để quản lý vốn lưu động của công ty, tránh lãng phí của tài sản sau quá trình luân chuyển. − Tài sản ngắn hạn có độ rủi ro thấp, nhanh chóng thích nghi với sự biến động lên xuống của sản xuất và doanh số giúp cho doanh nghiệp có thể hủy bỏ các khoản đầu tư ngắn hạn mà không mang lại quá nhiều tổn thất về kinh tế tài chính khi có vấn đề xảy ra. − Tài sản ngắn hạn sẽ có giá trị cao hơn sau các lần luân chuyển và sẽ được thu hồi toàn bộ khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (thường là 12 tháng). Phân loại tài sản ngắn hạn Việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn muốn tiến hành một cách khoa học và hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý phải nắm được thành phần và kết cấu của tài sản ngắn hạn, từ đó có biện pháp điều chỉnh và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn.
Người ta sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại tài sản ngắn hạn tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý. Dưới đây là hai tiêu thức thường được sử dụng: 1. Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ − Nguyên vật liệu chính: nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất, chúng cấu tạo nên thực thể sản phẩm. − Nguyên vật liệu phụ: nguyên vật liệu không đóng vai trò chủ yếu tạo nên sản phẩm, góp phần làm cho sản phẩm bền đẹp hơn.
− Nhiên liệu, phụ tùng thay thế: nhiên liệu, phụ tùng thay thế sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp − Công cụ, dụng cụ: tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nhưng có giá trị thấp, không đủ tiêu chuẩn trở thành tài sản cố định. Tài sản ngắn hạn nằm trong khâu sản xuất − Sản phẩm dở dang: toàn bộ những sản phẩm chưa chế tạo xong, còn nằm trên dây chuyền sản xuất hoặc trong kho. − Bán thành phẩm: sản phẩm dở dang đã kết thúc một vài quy trình biến đổi nhưng cần được biến đổi tiếp qua một vài quy trình mới trở thành sản phẩm. 2 Thư viện ĐH Thăng Long − Chi phí chờ kết chuyển: các chi phí liên quan đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh, được phân bổ vào chi phí sản xuất các kỳ nhằm đảm bảo giá thành ổn định.
Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông − Thành phẩm: tổng số sản phẩm đã hoàn thành, nhập kho và chờ tiêu thụ. − Hàng hóa mua ngoài: hàng hóa được mua từ bên ngoài doanh nghiệp. − Hàng hóa gửi bán: các sản phẩm được gửi bán tại đại lý nhưng chưa được khách hàng chấp nhận. − Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản ký cược, ký quỹ, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn v.
− Các khoản vốn dùng trong thanh toán: bao gồm các khoản phải thu khách hàng, tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán v. Hình thức phân loại này cho biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Phân loại dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Căn cứ theo các khoản mục trên bảng CĐKT, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Tiền và các khoản tương đương tiền Tiền: Chỉ tiêu này là loại tài sản đặc biệt của doanh nghiệp, phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: Tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn và tiền đang chuyển.
Tiền được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua sắm TSCĐ, trả lương nhân viên và chi trả các khoản khác. Tiền có tính chất là loại tài sản có tính lỏng cao nhất, được sử dụng tức thời để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra. Các khoản tương đương tiền: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi không quá 3 tháng kể từ ngày đầu tư có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền tại thời điểm báo cáo. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị của các khoản đầu tư ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh), bao gồm các khoản: Chứng khoán kinh doanh, dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh, các khoản đầu tư khác nắm giữ đến ngày đáo hạn.
Các khoản đầu tư ngắn hạn được phản ánh trong mục này là các khoản đầu 3 tư có thời gian thu hồi vốn dưới một năm hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh như tín phiếu kho bạc, trái phiếu ngắn hạn và kỳ phiếu ngân hàng. Trong đầu tư tài chính ngắn hạn, việc đầu tư vào các chứng khoán có tính lỏng cao là hết sức quan trọng. Các chứng khoán này giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt. Vì nếu số dư tiền mặt lớn, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán đó nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng thành tiền một cách dễ dàng ít tốn kém.
Trong quản lý tài chính, các chứng khoán có tính lỏng cao được sử dụng để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn. Các khoản phải thu ngắn hạn Các khoản phải thu ngắn hạn thể hiện tất cả các khoản nợ cần thu hồi dưới dạng tiền, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các bên nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty. Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu ngắn hạn có kỳ hạn thu hồi còn lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo bao gồm các khoản phải thu khách hàng, khoản trả trước người bán, phải thu nội bộ, phải thu khác tại thời điểm báo cáo có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới 1 năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường. Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không cân đối các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn thậm chí dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
Hàng tồn kho Trong quá trình luân chuyển vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.