CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp Theo PGS.
Lưu Thị Hương, Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Thống kê, năm 2003 thì tài sản ngắn hạn được hiểu: “Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, trong khoảng 12 tháng hoặc một chu kì kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: - Tiền và các khoản tương đương tiền như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, chứng khoán dễ thanh khoản. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu, trái phiếu.
Các khoản phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ. - Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường. Các tài sản ngắn hạn thường tham gia và được thu hồi vốn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh”. Tại Điều 112 Thông tư 200/2014/TT-BTC, Thông tư Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp: “Tài sản ngắn hạn là tài sản phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo.
Lê Thị Xuân, Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh tế quốc dân: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.” Tóm lại, có rất nhiều quan niệm về tài sản ngắn hạn, tuy nhiên ta có thể hiểu một cách khái quát và tài sản ngắn hạn như sau: Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc về quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình 1 thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sản xuất tài sản ngắn hạn được thể hiện dưới hình thái như nguyên vật liệu, vật đóng gói, phụ tùng thay thế. Trong lĩnh vực lưu thông nó tồn tại thay thể luân phiên cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục. Phân loại tài sản ngắn hạn 1.
Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản ngắn hạn được chia thành: Tài sản ngắn hạn dự trữ: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu tồn kho, công cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán. Tài sản ngắn hạn sản xuất: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất,. Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng. Cách phân loại này giúp nhà quản lý doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách cao nhất.
Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán ta có thể phân loại tài sản ngắn hạn thành các phần: Tiền mặt, các khoản đầu tư ngắn hạn, hàng tồn kho, các khoản phải thu, các tài sản khác. Tiền mặt: Tiền mặt là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nhiệp ở ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ. Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do đó trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất.
Các khoản đầu tư ngắn hạn: Các khoản đầu tư ngắn hạn là các khoản đầu tư có thời hạn dưới 1 năm, thường có tính thanh khoản cao và rủi ro thấp. Các loại chứng khoán giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán, khi cần thiết chúng có thể đổi sang tiền mặt một 2 Thư viện ĐH Thăng Long cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Các khoản đầu tư ngắn hạn phổ biến bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, loại tài sản có tính thanh khoản cao. Các khoản phải thu: Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu.
Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán mà nhận sau một thời gian xác định do hai bên thỏa thuận hình thành nên các khoản phải thu của doanh nghiệp. Việc cho các doanh nghiệp khác nợ chính là hình thức tín dụng thương mại. Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn thậm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán. Thông thường các khoản phải thu ngắn hạn sẽ bao gồm: các khoản tiền thu từ bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, thuế GTGT được khấu trừ, khoản thu nội bộ, doanh thu khác của công ty, khoản nợ khó đòi khác.
Hàng tồn kho: Nhóm tài sản ngắn hạn tiếp theo của doanh nghiệp là hàng tồn kho bao gồm các nguyên vật liệu, vật tư, linh kiện, thành phẩm. Tuy nhiên, hàng tồn kho sẽ không có giá trị thanh khoản cao như tài sản ngắn hạn khác. Các loại hàng tồn kho sẽ phụ thuộc vào sản phẩm ngành công nghiệp. Hàng tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm.
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành bình thường. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, gây nên ứ đọng vốn thậm chí nếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ không thể tiếp tục, từ đó không thể hoàn thành được kế hoạch sản xuất. Khi hoàn thành quá trình sản xuất hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ hết sản phẩm. Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa các sản xuất và tiêu dùng, phần phải có đủ lô hàng mới sản xuất được… Những doanh nghiệp mà sản xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn kho sản phẩm sẽ lớn.
Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức dự trữ an toàn khác nhau. Nguyên vật liệu: Các nguyên vật liệu là tài sản ngắn hạn như: Công cụ, dụng cụ trong kho, công cụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ban đầu hoặc sản xuất hàng hóa 3 Các tài sản ngắn hạn khác: Tất cả các loại tài sản còn lại sau khi trừ đi những món nêu trên là tài sản ngắn hạn khác. Nhóm này được dùng để thể hiện tổng giá trị tài sản khác hay các khoản chi phí có mức thời gian thu hồi không quá 12 tháng. Đặc điểm tài sản ngắn hạn TSNH có tính chất biến đổi và xuất hiện liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn, có thể chuyển đổi tiền thành vật chất và ngược lại.
Đặc biệt, mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau lại có những hình thức tài sản ngắn hạn khác nhau. Ngoài ra, loại tài sản này có các đặc điểm khác, chẳng hạn: Được hình thành từ nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp: Nguồn vốn kinh doanh là điều kiện các doanh nghiệp đều phải có để bắt đầu quá trình hoạt động kinh doanh. Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn để mua sắm hàng hóa, sản phẩm,. Vì vậy, TSNH được hình thành từ nguồn vốn và cũng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Chuyển đổi nhanh chóng thành tiền trong vòng 1 năm: Tài sản ngắn hạn được kỳ vọng có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt hoặc được sử dụng trong quá trình kinh doanh trong vòng một năm. Tài sản ngắn hạn thường bao gồm: các khoản đầu tư ngắn hạn, hàng tồn kho và các khoản phải thu. Được phân bổ trong tất cả các khâu trong quá trình hoạt động: TSNH phục vụ cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, TSNH được phân bổ vào tất cả các khâu và luôn vận hành, thay thế, chuyển hóa cho nhau qua các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
Bao gồm nhiều loại tài sản: Tài sản ngắn hạn có thể bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau như: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn, hàng tồn kho, và các khoản phải thu,. Vai trò của tài sản ngắn hạn đối với doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể kinh doanh, sản xuất thuận lợi.