Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ triết học "Quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm" của nghiên cứu sinh Vũ Thị Hồng Nhung, do GS. Nguyễn Vũ Hảo hướng dẫn, được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2021 (chuyên ngành Triết học, mã số 9.01).
Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ nhận định của Ph. Ăngghen về việc rèn luyện tư duy lý luận thông qua nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước, trong đó triết học cổ điển Đức nói chung và triết học của Immanuel Kant nói riêng giữ vị trí là một trong ba nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác. Luận án chỉ rõ rằng I. Kant là người khởi xướng chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm (Transzendentaler Idealismus) và đặt nền móng cho vấn đề chủ thể tiên nghiệm (Transzendentales Subjeckt), tạo tiền đề cho các nhà triết học tiếp theo như J. G. Fichte, F. W. J. Schelling, G. W. F. Hegel, đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu cho các trào lưu hiện đại thế kỷ XX như hiện tượng học của E. Husserl và chủ nghĩa hiện sinh. Về mặt thực tiễn, việc tìm hiểu quan niệm này cung cấp cơ sở để tiếp thu các thành tựu của văn minh phương Tây, nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể của con người trong công cuộc đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù triết học I. Kant đã được giảng dạy ở bậc đại học và sau đại học, các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về quan niệm chủ thể tiên nghiệm tại Việt Nam vẫn còn rất ít. Vấn đề này có tính chất trừu tượng và phức tạp, dẫn đến sự thiếu vắng các khảo cứu đồng bộ về cả ba phương diện: nhận thức, đạo đức và thẩm mỹ. Khái niệm chủ thể tiên nghiệm được hiểu là chủ thể có trước kinh nghiệm, độc lập với kinh nghiệm, không cảm nhận được bằng giác quan; phân biệt với chủ thể kinh nghiệm gắn với thể xác, tâm lý và cảm tính.
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích, làm rõ quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm, từ đó đánh giá những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng của quan niệm này đối với lịch sử triết học phương Tây sau ông.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung:
- Phân tích những điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự hình thành quan niệm I. Kant về chủ thể tiên nghiệm.
- Phân tích một cách có hệ thống, làm rõ quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm, đặc biệt về cấu trúc và các năng lực cơ bản của chủ thể nhận thức tiên nghiệm, chủ thể đạo đức tiên nghiệm và chủ thể thẩm mỹ tiên nghiệm.
- Đưa ra nhận xét, đánh giá về những giá trị và hạn chế của quan niệm về chủ thể tiên nghiệm trong triết học I. Kant cũng như một số nhận định về những ảnh hưởng của quan niệm này đối với lịch sử triết học phương Tây sau ông.
Đối tượng nghiên cứu: Nội dung cơ bản trong quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn chủ yếu ở các tác phẩm thuộc thời kỳ phê phán của I. Kant, bao gồm: Phê phán lý tính thuần túy (Kritik der reinen Vernunft), Phê phán lý tính thực hành hay còn gọi là Phê phán lý tính thực tiễn (Kritik der praktischen Vernunft), và Phê phán năng lực phán đoán (Kritik der Urteilskraft).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tư liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phân định thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm nghiên cứu về điều kiện, tiền đề hình thành triết học I. Kant:
- Về bối cảnh lịch sử - xã hội Đức và Tây Âu: Bùi Thị Thanh Hương và Nguyễn Đình Trình (trong Lịch sử Triết học cổ điển Đức) phân tích tình trạng phân tán phong kiến của Đức với 31 tiểu vương quốc và 4 thành phố tự trị. Ngô Thị Mỹ Dung (Triết học đạo đức của I. Kant và ảnh hưởng của nó đối với triết học Đức thế kỷ XIX) và Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (Lịch sử triết học: Triết học cổ điển Đức) chỉ ra sự lạc hậu kinh tế và chia cắt chính trị của vương quốc Đức. Các luận án của Vũ Thị Thu Lan, Nguyễn Thị Hảo, Nguyễn Vân Hạnh, luận văn của Hà Huy Tuấn và Vũ Thị Hải đều phân tích ảnh hưởng của phong trào Khai sáng và các cuộc cách mạng tư sản Anh, Pháp đến tư tưởng Đức. Ở ngoài nước, Sebastian Gardner (Kant and The Critique of Pure Reason) và Michael J. Olson (Kant’s Transcendental and Metaphysical Idealism) phân tích bối cảnh tinh thần phê phán và sự thỏa hiệp chính trị của giai cấp tư sản Đức.
- Về tiền đề khoa học tự nhiên: Giáo trình Lịch sử Triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên, công trình của Lê Công Sự (Học thuyết phạm trù trong triết học I. Kant) và Vũ Thị Thu Lan nêu bật vai trò của thuyết Nhật tâm (N. Copernicus), khám phá vũ trụ vô tận của G. Bruno, định luật chuyển động hành tinh của J. Kepler, cơ học cổ điển và định luật vạn vật hấp dẫn của I. Newton, định luật bảo toàn của M. Lomonosov, hóa học của A. Lavoisier và phát hiện tế bào của A. Leeuwenhoek.
- Về tiền đề tư tưởng triết học: Nguyễn Tiến Dũng (Lịch sử triết học phương Tây), Nguyễn Văn Huyên (Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII-XIX - Triết học Imanuin Cantơ), Nguyễn Chí Hiếu (Vấn đề bản thể luận trong Triết học duy tâm cổ điển Đức...), Khuất Duy Dũng (Chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm trong nhận thức luận của I. Kant) và Nguyễn Thị Hải Yến phân tích tác động từ chủ nghĩa duy lý của R. Descartes (mệnh đề Cogito, ergo sum), đơn tử luận của G. Leibniz, bản thể luận của C. Wolff, cùng với chủ nghĩa duy nghiệm của F. Bacon, J. Locke, D. Hume và triết học xã hội của J.-J. Rousseau.
Nhóm nghiên cứu về hệ thống triết học I. Kant:
- Các nghiên cứu sớm ở Việt Nam gồm sách của Nguyễn Đình Thi (năm 1942), bài giảng của GS. Trần Đức Thảo tại Đại học Sư phạm Hà Nội (1955-1957, in trong Lịch sử tư tưởng trước Mác), tác phẩm của Trần Thái Đỉnh (Triết học Kant, 1974/2005) nhấn mạnh mục đích vạch rõ giới hạn nhận thức để xây dựng siêu hình học đạo đức.
- Các công trình chuyên khảo tập thể: Viện Triết học xuất bản I. Kant - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức (với các bài viết của Phạm Minh Lăng, Nguyễn Trọng Chuẩn, Vũ Văn Viên, Lê Công Sự, Đặng Hữu Toàn, Đỗ Huy); Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế năm 2004 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (gồm 50 bài tham luận của Trần Văn Phòng, Phạm Văn Chung, Ngô Thị Mỹ Dung...); nghiên cứu của Lê Tôn Nghiêm và lời giới thiệu của Bùi Văn Nam Sơn bàn về tính hữu hạn từ góc nhìn của M. Heidegger; bản dịch công trình của E. Ilyenkov và tư liệu do Đỗ Minh Hợp hiệu đính.
Nhóm nghiên cứu trực tiếp về chủ thể tiên nghiệm:
- Chủ thể nhận thức: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và Nguyễn Anh Tuấn (Đại cương lịch sử phương Tây); Nguyễn Vũ Hảo (Tư tưởng của I. Kant về sự thống nhất của lý luận nhận thức, đạo đức trong nhân học, 2004 và chuyên khảo Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại, 2016); Âu Dương Khang; Nguyễn Trọng Chuẩn; Hồ Sỹ Quý; Nguyễn Anh Tuấn; Phạm Văn Sanh (Vấn đề tự ý thức trong lịch sử triết học phương Tây).
- Chủ thể đạo đức: Vũ Minh Tâm, Vũ Thị Thu Lan, Âu Dương Khang, Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Vũ Hảo phân tích "mệnh lệnh tuyệt đối", ý chí tự luật và tự do nội tại.
- Chủ thể thẩm mỹ: Đỗ Văn Khang (Lịch sử Mỹ học), Đỗ Huy.
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu trong văn bản |
Trọng tâm nội dung đã chỉ ra |
| Điều kiện lịch sử - xã hội Đức |
Bùi Thị Thanh Hương, Nguyễn Đình Trình, Ngô Thị Mỹ Dung, Sebastian Gardner, Michael J. Olson |
Sự phân tán chính trị (31 tiểu quốc, 4 thành phố), kinh tế phong kiến lạc hậu, tư sản Đức yếu thế thỏa hiệp. |
| Tiền đề khoa học tự nhiên |
Nguyễn Hữu Vui, Lê Công Sự, Vũ Thị Thu Lan |
Thuyết Nhật tâm Copernicus, cơ học Newton, định luật Kepler, hóa học Lavoisier thúc đẩy toán học hóa tri thức. |
| Tiền đề tư tưởng triết học |
Nguyễn Chí Hiếu, Nguyễn Vân Hạnh, Khuất Duy Dũng, Nguyễn Văn Huyên |
Sự xung đột giữa chủ nghĩa duy lý (Descartes, Leibniz, Wolff) và chủ nghĩa duy kinh nghiệm (Bacon, Locke, Hume). |
| Khái quát triết học I. Kant |
Nguyễn Đình Thi, Trần Đức Thảo, Trần Thái Đỉnh, Viện Triết học, ĐHKHXH&NV |
Giới hạn của lý tính thuần túy, sự phân định hiện tượng và vật tự nó, đạo đức học và nhận thức luận. |
| Vấn đề chủ thể tiên nghiệm |
Nguyễn Vũ Hảo, Hồ Sỹ Quý, Âu Dương Khang, Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Sanh |
Cấu trúc nhận thức (cảm tính, giác tính, thông giác, lý tính), ý chí đạo đức tự luật, phán đoán thẩm mỹ. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án tập trung xử lý tính thiếu hệ thống trong các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, làm rõ sự thống nhất giữa ba phương diện cấu thành chủ thể tiên nghiệm (nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ) dưới góc nhìn nhân học triết học; đồng thời làm rõ sự phân biệt ngữ nghĩa giữa các khái niệm phức tạp trong nguyên bản tiếng Đức và hệ thuật ngữ tiếng Việt.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nghiên cứu lịch sử triết học, xem xét các tư tưởng triết học trong mối quan hệ hữu cơ với điều kiện tồn tại xã hội của nước Đức và Tây Âu cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX; giải quyết mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, bản thể luận và nhận thức luận, cá nhân và xã hội.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính trong lĩnh vực lịch sử triết học, sử dụng phương pháp luận mácxít kết hợp với các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lôgic và lịch sử: Phục dựng tiến trình phát triển tư tưởng từ thời kỳ tiền phê phán đến thời kỳ phê phán của I. Kant, gắn tư tưởng với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng thành tố cấu trúc của chủ thể tiên nghiệm (nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ) và tổng hợp lại trong chỉnh thể nhân học.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Rút ra các kết luận khái quát từ các luận điểm cụ thể trong văn bản gốc của I. Kant.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quan điểm của I. Kant với chủ nghĩa duy lý (R. Descartes, C. Wolff) và chủ nghĩa duy nghiệm (F. Bacon, J. Locke, D. Hume).
Nguồn tư liệu: Luận án khảo sát các tác phẩm gốc thời kỳ phê phán của I. Kant, các công trình nghiên cứu của các học giả mácxít, các chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học và luận án tiến sĩ liên quan trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề tài luận án
Chương này điểm luận chi tiết ba nhóm tài liệu nghiên cứu:
- Nhóm công trình về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học tự nhiên và tư tưởng triết học dẫn đến sự hình thành hệ thống triết học I. Kant.
- Nhóm công trình nghiên cứu về toàn bộ triết học của I. Kant, ghi nhận các giai đoạn tiếp cận tại Việt Nam từ trước năm 1975 đến các hội thảo khoa học đương đại.
- Nhóm công trình khảo cứu về quan niệm chủ thể tiên nghiệm trên các mặt nhận thức luận, đạo đức học và mỹ học.
Tác giả chỉ rõ kết quả đạt được từ các công trình đi trước, đồng thời xác lập những nội dung luận án cần đi sâu giải quyết: khắc phục cách dịch thiếu thống nhất về thuật ngữ "transzendental" (tiên nghiệm hay siêu nghiệm) và phân tích có hệ thống cấu trúc ba chiều kích của chủ thể tiên nghiệm.
Chương 2: Những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm
Chương 2 trình bày các điều kiện hiện thực và cơ sở lý luận dẫn tới tư tưởng của I. Kant:
- Điều kiện lịch sử - xã hội: Vương quốc Đức thế kỷ XVIII là quốc gia phong kiến nông nghiệp lạc hậu, chia cắt thành 31 tiểu vương quốc và 4 thành phố tự trị; chế độ nông nô tái diễn lần hai làm kiệt quệ sức sản xuất; kinh tế công thương nghiệp kém phát triển (đến năm 1822 toàn nước Đức mới có hai máy hơi nước). Trong khi giai cấp tư sản Anh và Pháp đã tiến hành cách mạng, tư sản Đức yếu ớt, phân tán, có xu hướng thỏa hiệp với chế độ phong kiến Phổ chuyên chế. Do đó, triết học I. Kant phản ánh cuộc cách mạng trên lĩnh vực tư tưởng, được đánh giá là "lý luận Đức của cuộc cách mạng tư sản Pháp".
- Tiền đề khoa học tự nhiên: Sự xuất hiện của cơ học cổ điển I. Newton (tác phẩm Các nguyên lý toán học của triết lý về tự nhiên, 1687), thuyết Nhật tâm N. Copernicus, các phát minh của G. Bruno, J. Kepler, A. Lavoisier và A. Leeuwenhoek đã mở rộng nhận thức của con người về tính quy luật của vũ trụ. Bản thân I. Kant trong thời kỳ tiền phê phán đã viết Lịch sử đại cương về tự nhiên và lý thuyết về bầu trời, vận dụng quy luật vạn vật hấp dẫn giải thích nguồn gốc hệ mặt trời và hiện tượng thủy triều làm chậm sự tự quay của trái đất. Các thành tựu này thúc đẩy khuynh hướng toán học hóa khoa học tự nhiên và khẳng định năng lực trí tuệ của con người.
- Tiền đề tư tưởng: Luận án phân tích sự xung đột giữa chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy kinh nghiệm:
- F. Bacon phê phán lối học kinh viện, vạch ra 4 loại ngẫu tượng (loài, hang động, công cộng, nhà hát) và đề cao phương pháp thực nghiệm; tạo cảm hứng để Kant xây dựng lôgic tiên nghiệm phân biệt với lôgic hình thức.
- J. Locke phê phán thuyết ý niệm bẩm sinh của Descartes, đưa ra nguyên lý "tấm bảng sạch" (tabula rasa), coi kinh nghiệm là nguồn gốc tri thức; I. Kant tiếp thu tính chủ quan của Locke nhưng chỉ trích Locke đã đi quá xa khi tìm cách rút ra mọi nguyên tắc tiên nghiệm từ kinh nghiệm thuần túy.
- Sự tác động từ chủ nghĩa hoài nghi của D. Hume (đánh thức Kant khỏi "giấc ngủ giáo điều") và tư tưởng về tự do của J.-J. Rousseau.
- Vài nét về cuộc đời và tác phẩm: Khái lược tiểu sử I. Kant tại Königsberg và phân kỳ hoạt động triết học thành thời kỳ tiền phê phán (nghiên cứu khoa học tự nhiên) và thời kỳ phê phán (tập trung vào ba tác phẩm phê phán lớn).
Chương 3: Những nội dung cơ bản trong quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm
Chương 3 là phần cốt lõi của luận án, trình bày cấu trúc và năng lực của chủ thể:
- Chủ thể tiên nghiệm là đối tượng của triết học duy tâm tiên nghiệm: Phân biệt giữa chủ thể kinh nghiệm (con người sinh học, tâm lý, nhận thức thông qua giác quan) và chủ thể tiên nghiệm (chủ thể thuần túy, mang các mô thức có sẵn trước kinh nghiệm, độc lập với kinh nghiệm).
- Chủ thể nhận thức tiên nghiệm: I. Kant thực hiện "cuộc cách mạng Copernicus" khi khẳng định khách thể phải xoay quanh chủ thể, tri thức hình thành do chủ thể quy định đối tượng. Cấu trúc nhận thức gồm:
- Cảm tính (Sinnlichkeit): Cung cấp dữ liệu trực quan thông qua hai hình thức tiên nghiệm thuần túy là không gian (trực quan bên ngoài) và thời gian (trực quan bên trong).
- Giác tính (Verstand): Năng lực tư duy liên kết các biểu tượng cảm tính thông qua 12 phạm trù tiên nghiệm (thuộc 4 nhóm: số lượng, chất lượng, quan hệ, bản thể).
- Thông giác tiên nghiệm (transzendentale Apperzeption): Hành vi tự ý thức thuần túy ("cái tôi tư duy"), giữ vai trò thống nhất mọi biểu tượng và phán đoán thành một chỉnh thể tri thức.
- Lý tính (Vernunft): Năng lực hướng tới các ý niệm tối cao (linh hồn, thế giới, Thượng đế), vạch ra các nghịch lý (antinomia) khi lý tính vượt quá giới hạn kinh nghiệm khả gian.
- Chủ thể đạo đức tiên nghiệm: Thuộc lĩnh vực lý tính thực hành. Con người ở phương diện "vật tự nó" (Ding an sich) hoàn toàn tự do, thoát khỏi quy luật nhân quả tất yếu của thế giới hiện tượng. Đạo đức học của Kant đặt trên nền tảng thiện chí tự thân, ý chí tự luật (Autonomie) và nguyên tắc "mệnh lệnh tuyệt đối" (kategorischer Imperativ), đòi hỏi con người hành động theo quy tắc có thể trở thành quy luật phổ biến và coi con người là cứu cánh chứ không phải phương tiện.
- Chủ thể thẩm mỹ tiên nghiệm: Khảo sát thông qua năng lực phán đoán, phân tích khoái cảm thẩm mỹ vô tư, không vụ lợi; phân biệt cái đẹp (sự phù hợp hình thức không mục đích) và cái cao cả (das Erhabene - sự vượt quá giới hạn cảm tính làm bừng tỉnh năng lực lý tính).
- Mối quan hệ giữa ba chủ thể: Cả ba phương diện nhận thức, đạo đức và thẩm mỹ không tách rời mà quy tụ vào tính chỉnh thể nhân học của con người, kết nối giữa thế giới hiện tượng (tự nhiên, tất yếu) và thế giới bản thể (tự do, đạo đức) qua cầu nối thẩm mỹ.
Chương 4: Những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng của quan niệm về chủ thể tiên nghiệm trong triết học I. Kant
- Những giá trị: Đề cao tính tích cực và vai trò lập pháp của chủ thể nhận thức; giải phóng đạo đức khỏi sự áp đặt của thần học và chủ nghĩa khoái lạc; thiết lập nguyên tắc tự do ý chí và nhân phẩm tuyệt đối của cá nhân; xây dựng mỹ học tự chủ.
- Những hạn chế: Quan điểm nhị nguyên luận không triệt để khi phân tách thế giới thành hiện tượng và "vật tự nó" bất khả tri; trừu tượng hóa chủ thể thành những mô thức tiên nghiệm thuần túy, tách rời con người khỏi các quan hệ xã hội, kinh tế và lịch sử hiện thực; đạo đức học mang tính hình thức, phi lịch sử.
- Những ảnh hưởng: Đặt nền tảng trực tiếp cho sự phát triển của triết học cổ điển Đức (Fichte xây dựng học thuyết về cái Tôi; Schelling phát triển triết học tự nhiên và đồng nhất; Hegel xây dựng hệ thống biện chứng duy tâm khách quan); cung cấp tiền đề để C. Mác và Ph. Ăngghen kế thừa có phê phán; tạo nguồn cảm hứng cho các trào lưu triết học phương Tây thế kỷ XX như phái Kant mới, hiện tượng học Husserl và chủ nghĩa hiện sinh.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định ba kết quả và đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật:
Thứ nhất, luận án phân biệt và làm rõ hệ thuật ngữ của I. Kant trong tiếng Việt. Tác giả đối chiếu các thuật ngữ tiếng Đức nguyên bản nhằm phân định ranh giới ngữ nghĩa giữa "tiên nghiệm" (transzendental - điều kiện có trước và độc lập với kinh nghiệm, làm cho kinh nghiệm có thể có được), "siêu nghiệm" (vốn hay bị đồng nhất hoặc dùng thay cho tiên nghiệm từ sau năm 2004), "thường nghiệm" hay "kinh nghiệm" (empirisch), "siêu việt" (transzendent - vượt ra ngoài mọi giới hạn kinh nghiệm khả giác), và "thông giác" (Apperzeption - năng lực tự ý thức thuần túy).
Thứ hai, luận án trình bày một cách có hệ thống cấu trúc và các năng lực nội tại của chủ thể tiên nghiệm trong triết học I. Kant. Luận án không dừng lại ở góc độ nhận thức luận đơn thuần mà triển khai đồng bộ ba phương diện: chủ thể nhận thức tiên nghiệm (với các mô thức cảm tính và phạm trù giác tính), chủ thể đạo đức tiên nghiệm (với ý chí tự luật và mệnh lệnh tuyệt đối), và chủ thể thẩm mỹ tiên nghiệm (với năng lực phán đoán phản tư), chỉ ra sự thống nhất của chúng trong chỉnh thể con người nhân học.
Thứ ba, luận án cung cấp nhận định, đánh giá khách quan dựa trên lập trường mácxít về những giá trị, hạn chế và ảnh hưởng lịch sử của quan niệm này đối với tiến trình triết học phương Tây từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX.
Về mặt ứng dụng thực tiễn, luận án kiến nghị tiếp tục đổi mới công tác nghiên cứu, giảng dạy triết học cổ điển Đức và triết học Mác tại Việt Nam; vận dụng các gợi ý về tính tích cực chủ thể và nhân cách đạo đức độc lập vào quá trình phát triển nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế: Văn bản luận án chỉ tập trung khảo cứu quan niệm chủ thể tiên nghiệm chủ yếu trong ba tác phẩm thời kỳ phê phán của I. Kant (Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực hành, Phê phán năng lực phán đoán). Luận án chưa đi sâu vào toàn bộ các văn bản thời kỳ tiền phê phán cũng như các trước tác chính trị - xã hội hay tác phẩm nhân học thực tiễn giai đoạn cuối đời của ông.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát sâu hơn sự chuyển biến tư tưởng về chủ thể từ thời kỳ tiền phê phán sang thời kỳ phê phán trong toàn bộ di cảo của I. Kant.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu quan niệm chủ thể tiên nghiệm của I. Kant với quan niệm chủ thể trong các trào lưu triết học phương Tây hiện đại thế kỷ XX, đặc biệt là hiện tượng học và chủ nghĩa hiện sinh.
- Nghiên cứu sâu hơn mối quan hệ chuyển tiếp từ quan niệm chủ thể tiên nghiệm của Kant sang triết học về cái Tôi của J. G. Fichte và biện chứng chủ thể - khách thể của G. W. F. Hegel.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Triết học, đặc biệt là các hướng nghiên cứu về Lịch sử triết học phương Tây, Triết học cổ điển Đức và Triết học Mác - Lênin.
- Giảng viên giảng dạy các học phần Triết học phương Tây, Nhận thức luận, Đạo đức học và Mỹ học tại các trường đại học và học viện.
- Các nhà nghiên cứu lý luận quan tâm đến vấn đề nhân học triết học, bản chất con người và phát huy nhân tố chủ thể trong quản lý xã hội.
Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm:
- Tiết tổng quan về bối cảnh lịch sử và tiền đề khoa học tự nhiên ở Chương 2: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử chi tiết về tình trạng kinh tế, xã hội nước Đức thế kỷ XVIII cùng các phát minh khoa học của Newton, Copernicus, Kepler.
- Cấu trúc các năng lực của chủ thể ở Chương 3: Phân tích chi tiết cơ chế nhận thức (không gian, thời gian, 12 phạm trù, thông giác tiên nghiệm) và nguyên tắc đạo đức học (mệnh lệnh tuyệt đối, ý chí tự do).
- Bảng phụ lục thuật ngữ và chỉ dẫn tên người ở cuối luận án: Hỗ trợ tra cứu chuẩn xác các thuật ngữ chuyên ngành triết học Đức - Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "chủ thể tiên nghiệm" trong luận án được định nghĩa như thế nào và khác gì với "chủ thể kinh nghiệm"?
Chủ thể tiên nghiệm (Transzendentales Subjeckt) là khái niệm chỉ con người chủ thể có trước kinh nghiệm, hoàn toàn độc lập với kinh nghiệm và không thể nhận biết trực tiếp bằng các giác quan thông thường; mang cấu trúc tiên nghiệm tạo nên điều kiện cho mọi nhận thức và hành vi đạo đức. Ngược lại, chủ thể kinh nghiệm là con người cụ thể gắn liền với kinh nghiệm thực tế, có thể xác và tâm hồn, chịu sự quy định của các yếu tố vật lý, tâm lý và cảm giác.
2. Cuộc "cách mạng Copernicus" mà I. Kant thực hiện trong nhận thức luận có nội dung gì?
Cuộc cách mạng Copernicus của I. Kant là sự đảo ngược quan hệ nhận thức truyền thống: thay vì cho rằng nhận thức của chủ thể phải thụ động tuân theo và phản ánh khách thể, Kant khẳng định khách thể phải phù hợp với các hình thức nhận thức tiên nghiệm sẵn có của chủ thể. Nhận thức không phải là sự sao chép thụ động mà là quá trình chủ thể chủ động tổ chức, kiến tạo các dữ liệu cảm tính thông qua các mô thức trực quan và phạm trù giác tính.
3. Tiền đề khoa học tự nhiên nào đã tác động trực tiếp đến quan niệm của I. Kant?
Các phát minh then chốt bao gồm: thuyết Nhật tâm của N. Copernicus, các định luật chuyển động hành tinh của J. Kepler, cơ học cổ điển và định luật vạn vật hấp dẫn trong tác phẩm Các nguyên lý toán học của triết lý về tự nhiên (1687) của I. Newton, các thí nghiệm hóa học về oxy của A. Lavoisier bác bỏ thuyết chất cháy flogiston, và phát hiện tế bào của A. Leeuwenhoek. Bản thân Kant đã vận dụng cơ học Newton để xây dựng thuyết tinh vân trong tác phẩm Lịch sử đại cương về tự nhiên và lý thuyết về bầu trời.
4. Vì sao I. Kant rơi vào quan điểm nhị nguyên và thuyết bất khả tri khi bàn về "vật tự nó"?
Theo luận án, I. Kant thừa nhận sự tồn tại khách quan của "vật tự nó" (Ding an sich) tác động vào giác quan để tạo ra cảm giác, thể hiện yếu tố duy vật. Tuy nhiên, ông cho rằng con người chỉ có thể nhận thức được thế giới "hiện tượng" thông qua các hình thức tiên nghiệm của chủ thể, còn bản thân "vật tự nó" thì lý tính con người không thể nhận biết được. Điều này xuất phát từ sự phức tạp của mối quan hệ giữa tư duy và hiện thực cùng hạn chế của khoa học đương thời, dẫn tới lập trường nhị nguyên và thuyết bất khả tri.
5. Luận án đã làm rõ sự phân biệt giữa thuật ngữ "tiên nghiệm" (transzendental) và "siêu việt" (transzendent) như thế nào?
Luận án làm rõ: "tiên nghiệm" (transzendental) chỉ những hình thức, điều kiện nhận thức có trước kinh nghiệm nhưng được dùng để tổ chức kinh nghiệm, làm cho tri thức kinh nghiệm trở nên khả hữu (như không gian, thời gian, các phạm trù). Trong khi đó, "siêu việt" (transzendent) dùng để chỉ những gì hoàn toàn vượt ra ngoài giới hạn của mọi kinh nghiệm khả giác (như Thượng đế, linh hồn bất tử), nơi mà lý tính thuần túy nếu cố gắng nhận thức sẽ rơi vào các ảo tưởng và nghịch lý.
Kết luận
Luận án "Quan niệm của I. Kant về chủ thể tiên nghiệm" của tác giả Vũ Thị Hồng Nhung là công trình nghiên cứu lịch sử triết học chuyên sâu, phục dựng toàn diện hệ thống quan niệm của I. Kant về con người với tư cách chủ thể nhận thức, chủ thể đạo đức và chủ thể thẩm mỹ. Dựa trên lập trường mácxít, công trình đã phân tích thấu đáo các điều kiện kinh tế - xã hội Đức, tiền đề khoa học tự nhiên và bối cảnh tư tưởng thời Cận đại tác động đến bước ngoặt tư duy của I. Kant. Luận án chỉ rõ những đóng góp về việc đề cao tính tích cực của chủ thể và tự do đạo đức, đồng thời vạch ra hạn chế nhị nguyên, trừu tượng của chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy triết học cổ điển Đức và triết học Mác - Lênin tại Việt Nam.