Tổng quan nghiên cứu
Xuất khẩu lao động là một trong những chủ trương chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đóng vai trò đòn bẩy giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thu hút ngoại tệ. Theo số liệu thống kê từ Cục Quản lý lao động ngoài nước thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hàng năm cả nước có hơn 100.000 lao động đi làm việc tại nước ngoài, riêng năm 2016 đạt 126.296 người (vượt 26,29% kế hoạch) và năm 2017 đạt 134.751 người (vượt 28,3% kế hoạch). Nguồn kiều hối gửi về nước từ hoạt động này duy trì ổn định ở mức từ 1,6 đến 2 tỷ USD mỗi năm, trực tiếp nâng cao đời sống cho hàng triệu hộ gia đình.
Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực như Philippines hay Indonesia, công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động nảy sinh nhiều bất cập pháp lý và thực tiễn. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại khu vực Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan). Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, đánh giá toàn diện thực trạng quản trị tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1992 - 2017 (trọng tâm là 2007 - 2017), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao đến năm 2025.
Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc làm sáng tỏ thẩm quyền quản lý hành chính theo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, tạo cơ sở khoa học để chính quyền đô thị loại đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 30% lên 80% trong các chương trình phái cử quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị nhà nước bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lý thuyết phân công lao động quốc tế để giải thích sự dịch chuyển nguồn nhân lực xuyên biên giới. Bản chất của xuất khẩu lao động được xác định là hoạt động xuất khẩu hàng hóa sức lao động – một loại hàng hóa đặc biệt gắn liền với các yếu tố thể chất, tinh thần, văn hóa và vị thế pháp lý của công dân tại nước tiếp nhận.
Khung nghiên cứu làm rõ ba khái niệm then chốt:
- Thứ nhất, quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tổ chức, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong quan hệ cung ứng sức lao động ra nước ngoài.
- Thứ hai, hợp đồng cung ứng lao động là văn bản thỏa thuận pháp lý giữa doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam và đối tác tiếp nhận nước ngoài.
- Thứ ba, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động, bao gồm việc bảo đảm điều kiện vốn pháp định 5 tỷ đồng và ký quỹ 1 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại theo quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng số 72/2006/QH11. Đồng thời, khung lý thuyết phân tích các quy định khống chế mức trần tiền dịch vụ không vượt quá một tháng lương cho một năm hợp đồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, so sánh và tổng hợp logic.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ các báo cáo định kỳ, báo cáo chuyên đề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước, Tổng cục Thống kê và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian từ năm 2007 đến năm 2017. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 87.365 lượt lao động xuất cảnh và hồ sơ hoạt động của 80 doanh nghiệp xuất khẩu lao động (gồm 47 doanh nghiệp trụ sở chính, 31 chi nhánh và 2 văn phòng đại diện) hoạt động trên địa bàn thành phố.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng đối với các nhóm dữ liệu quản lý hành chính nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối và phản ánh đúng thực tế phức tạp của đô thị lớn nhất cả nước. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích luật học và thống kê thực chứng là nhằm chỉ ra các lỗ hổng giữa quy định văn bản pháp luật hiện hành và quá trình thực thi trên thực tế, từ đó đưa ra những luận chứng xác đáng cho các kiến nghị hoàn thiện thể chế.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình khảo sát thực tiễn công tác quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 - 2017 đã ghi nhận bốn phát hiện cốt lõi:
Thứ nhất, thị trường Đông Bắc Á giữ vai trò chủ lực tuyệt đối trong cơ cấu xuất khẩu lao động của thành phố. Trong tổng số 87.365 lao động được các doanh nghiệp trên địa bàn đưa đi làm việc giai đoạn 2007 - 2016, Nhật Bản dẫn đầu với 39.902 người (chiếm 45,67%), Đài Loan tiếp nhận 14.823 người (chiếm 16,96%), và Hàn Quốc tiếp nhận 4.668 người (chiếm 5,34%). Tổng cộng ba thị trường Đông Bắc Á này chiếm tới gần 68% tổng số lao động xuất cảnh.
Thứ hai, tỷ lệ lao động có hộ khẩu thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia xuất khẩu lao động còn rất khiêm tốn, chỉ đạt 6.615 người, dao động từ 7% đến 10% tổng số lao động do các doanh nghiệp trên địa bàn đưa đi. Điều này cho thấy các doanh nghiệp tại thành phố chủ yếu tuyển chọn nguồn lực từ các tỉnh thành lân cận.
Thứ ba, cơ cấu chất lượng lao động xuất khẩu còn nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề bài bản chiếm tới 70%, trong khi lao động có trình độ trung cấp nghề chỉ chiếm khoảng 20% và trình độ đại học đạt khoảng 10%.
Thứ tư, công tác quản lý lao động làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trình EPS gặp khủng hoảng do tỷ lệ cư trú bất hợp pháp cao. Giai đoạn 2007 - 2017, thành phố có 3.703 lao động tham gia thi tiếng Hàn nhưng chỉ có 715 người xuất cảnh thành công; các năm 2009, 2012, 2013 và 2014 chương trình bị gián đoạn hoặc tạm ngừng tiếp nhận do phía đối tác áp dụng biện pháp chế tài đối với tình trạng lao động bỏ trốn sau khi hết hạn hợp đồng.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên phản ánh sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành và nguồn lực quản lý nhà nước tại địa phương. Về mặt tổ chức bộ máy, Phòng Việc làm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh chỉ được bố trí 2 nhân sự chuyên trách để theo dõi, quản lý toàn bộ hoạt động của 80 doanh nghiệp, chi nhánh xuất khẩu lao động và hàng vạn người lao động, dẫn đến tình trạng quá tải trong công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ.
Khi thảo luận kết quả, dữ liệu về thị phần tiếp nhận lao động được trực quan hóa qua biểu đồ tròn để làm nổi bật tỷ trọng áp đảo của Nhật Bản và Đài Loan, đồng thời xu hướng biến động số lượng xuất cảnh qua từng năm được mô tả chi tiết bằng biểu đồ cột nhằm làm rõ tác động tiêu cực của các đợt gián đoạn thị trường Hàn Quốc.
So sánh với các công trình nghiên cứu kinh tế trước đây của Nguyễn Lương Trào hay Cao Văn Sâm, nghiên cứu này chỉ rõ nguyên nhân của các sai phạm không chỉ nằm ở khía cạnh kinh tế mà xuất phát từ chế tài xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP còn quá nhẹ. Điển hình là mức phạt tiền từ 15 đến 20 triệu đồng đối với hành vi kinh doanh ngành nghề không có trong giấy phép chưa đủ sức răn đe trước nguồn lợi nhuận dịch vụ khổng lồ mà doanh nghiệp có thể thu được từ người lao động.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động:
Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường chế tài xử phạt hành chính. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các cơ quan tư pháp cần nghiên cứu sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định xử phạt hành chính, nâng mức phạt tiền lên gấp 3 đến 5 lần đối với các hành vi thu phí vượt trần hoặc đưa lao động đi khi chưa được phê duyệt hợp đồng. Mục tiêu giai đoạn 2018 - 2020 là giảm thiểu 100% các vụ việc tranh chấp thu phí môi giới trái quy định và xử lý dứt điểm tình trạng văn phòng tuyển dụng chui.
Thứ hai, kiện toàn bộ máy quản lý và nâng cao năng lực cán bộ chuyên trách tại địa phương. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần phê duyệt đề án tăng cường biên chế cho Phòng Việc làm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội từ 2 lên tối thiểu 5 đến 7 chuyên viên phụ trách trong giai đoạn 2018 - 2019. Lực lượng này có nhiệm vụ phối hợp liên ngành với Công an Thành phố tổ chức thanh tra đột xuất ít nhất 30% số doanh nghiệp dịch vụ trên địa bàn mỗi năm.
Thứ ba, đổi mới và chuẩn hóa công tác đào tạo nguồn nhân lực gắn liền với nhu cầu thị trường Đông Bắc Á. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các trường cao đẳng, trung cấp nghề thiết lập mô hình liên kết ba bên giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp XKLĐ. Đặt mục tiêu từ năm 2018 đến 2022 nâng tỷ lệ lao động xuất khẩu có chứng chỉ kỹ năng nghề đạt 80%, trong đó 100% người lao động xuất cảnh phải hoàn thành chương trình giáo dục định hướng về pháp luật, ngoại ngữ và văn hóa sở tại.
Thứ tư, xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên thông để quản lý và hỗ trợ tái hòa nhập cho lao động hồi hương. Giai đoạn 2019 - 2021, thành phố cần hoàn thiện hệ thống phần mềm quản lý định danh người lao động đi làm việc ở nước ngoài, kết nối dữ liệu giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an Thành phố và Cục Quản lý lao động ngoài nước. Cơ sở dữ liệu này giúp giám sát chặt chẽ tình trạng cư trú, đồng thời kết nối sàn giao dịch việc làm để bố trí việc làm cho trên 85% lao động có tay nghề kỹ thuật cao sau khi kết thúc hợp đồng về nước.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho bốn nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước về lao động và chính quyền địa phương: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố và Ủy ban nhân dân các cấp có thể sử dụng tài liệu làm căn cứ thực tiễn để ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện quy trình thanh tra chuyên ngành và tối ưu hóa bộ máy quản lý di cư lao động đô thị.
- Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Ban lãnh đạo và cán bộ pháp chế doanh nghiệp có thể tham khảo để chuẩn hóa quy trình ký kết hợp đồng cung ứng, quản lý quỹ ký quỹ, minh bạch hóa biểu phí dịch vụ và thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh với đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.
- Cơ sở nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Luật học, Kinh tế lao động: Các học viện, trường đại học chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Quản lý công có thể khai thác luận văn như một tài liệu tham khảo chuyên sâu, phục vụ giảng dạy các học phần về Luật Lao động quốc tế và Quản lý hành chính nhà nước về kinh tế đối ngoại.
- Người lao động và thân nhân có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài: Cá nhân người lao động có thể sử dụng các thông tin pháp lý trong công trình để nắm vững quyền và nghĩa vụ hợp đồng, mức trần chi phí hợp pháp, nhận diện các thủ đoạn lừa đảo và chủ động chuẩn bị kỹ năng ngoại ngữ trước khi xuất cảnh.
Câu hỏi thường gặp
Thị trường Đông Bắc Á có những ưu thế nổi bật nào khiến người lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước lựa chọn chiếm tỷ trọng lớn? Thị trường Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) mang lại mức thu nhập bình quân vượt trội từ 800 đến 1.300 USD mỗi tháng, cao gấp 3 đến 5 lần thu nhập trong nước. Sau 3 năm hoàn thành hợp đồng, người lao động có thể tích lũy từ 400 đến 700 triệu đồng làm vốn phát triển kinh tế gia đình.
Tại sao tỷ lệ người có hộ khẩu Thành phố Hồ Chí Minh tham gia xuất khẩu lao động chỉ đạt từ 7% đến 10%? Thị trường việc làm tại Thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng với mức thu nhập tương đối ổn định, khiến lao động nội đô có tâm lý kén chọn thị trường. Họ thường chỉ ưu tiên các thị trường có điều kiện làm việc cao cấp như diện kỹ sư hoặc chuyên gia, trong khi lao động các tỉnh có động lực xuất khẩu lớn hơn.
Doanh nghiệp muốn được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cần đáp ứng điều kiện cốt lõi nào? Theo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, doanh nghiệp phải có vốn pháp định tối thiểu 5 tỷ đồng, thực hiện ký quỹ 1 tỷ đồng tại ngân hàng thương mại, có đề án hoạt động khả thi, bộ máy chuyên trách đào tạo và người lãnh đạo có ít nhất 3 năm kinh nghiệm trong ngành.
Nguyên nhân chính khiến Chương trình EPS đi Hàn Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh bị gián đoạn trong giai đoạn 2012 - 2014 là gì? Nguyên nhân chủ yếu do tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước mà trốn ở lại cư trú bất hợp pháp quá cao. Phía Hàn Quốc đã áp dụng biện pháp tạm ngừng tiếp nhận lao động mới để yêu cầu Chính phủ Việt Nam triển khai các giải pháp xử lý triệt để tình trạng bỏ trốn.
Mức xử phạt hành chính đối với người lao động tự ý bỏ trốn hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng được quy định như thế nào? Theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP, người lao động tự ý bỏ trốn khỏi nơi làm việc hoặc ở lại nước ngoài trái phép bị phạt tiền từ 80 đến 100 triệu đồng, bị buộc về nước và áp dụng biện pháp cấm đi làm việc ở nước ngoài trong thời hạn từ 2 đến 5 năm.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động theo chuẩn mực của ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
- Khảo sát thực chứng giai đoạn 2007 - 2017 tại Thành phố Hồ Chí Minh làm rõ vai trò áp đảo của thị trường Đông Bắc Á với 39.902 lao động sang Nhật Bản và 14.823 lao động sang Đài Loan, đóng góp hàng nghìn tỷ đồng kiều hối cho ngân sách và xã hội.
- Nghiên cứu chỉ rõ các điểm nghẽn hành chính gồm bộ máy quản lý tại địa phương còn mỏng, chất lượng lao động qua đào tạo chỉ đạt 30% và chế tài xử lý vi phạm doanh nghiệp dịch vụ chưa đủ sức răn đe.
- Đóng góp chính của công trình là đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, tổ chức bộ máy biên chế, chuẩn hóa đào tạo tay nghề 80% và xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa liên ngành.
- Lộ trình thực thi tiếp theo giai đoạn 2018 - 2025 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền và doanh nghiệp. Hãy liên hệ các cơ sở đào tạo và cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền để tra cứu thông tin chính thống và bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi tham gia làm việc tại nước ngoài.