CHƯƠNG 1: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH TIẾP NHẬN LAO ĐỘNG VIỆT NAM CỦA NHẬT BẢN 1. Các khái niệm liên quan ❖ Khái niệm “Lao động” Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì lao động là “hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội” (Hoàng Phê, 2019, tr. 689) Ngoài ra, “quá trình lao động cũng là quá trình phát triển, hoàn thiện con người và xã hội loài người. Con người ngày càng hiểu biết tự nhiên hơn, phát hiện ra các quy luật của tự nhiên và xã hội, cải tiến và hoàn thiện các công cụ sản xuất, làm cho sản xuất ngày càng có hiệu quả hơn.
Tóm lại, lao động là tạo ra vật chất nuôi sống con người, gia đình và xã hội, đây là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất. Để đáp ứng tốt nhu cầu cuộc sống, con người trong lao động luôn sáng tạo không ngừng, cải tiến sản phẩm, tạo ra cái mới, đây là động lực để xã hội phát triển. Tùy theo lĩnh vực, tính chất hoạt động mà lao động được phân chia thành nhiều loại như: lao động sản xuất kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hóa nghệ thuật,. Ngày nay, lao động gắn chặt với hoạt động kinh tế, năng suất lao động là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội, đất nước vững mạnh.
Có thể nói lao động chính là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. ❖ Khái niệm “Thị trường lao động” Về khái niệm thị trường lao động, đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa sau: Trong Đại từ điển kinh tế thị trường: “Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động của người lao động.” Theo Adam Smith2: “Thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động giữa một bên là người mua dịch vụ lao động và một bên là người bán dịch vụ lao động”. 2 Adam Smith (1723 – 1790) là nhà kinh tế học, nhà triết học người Scotland. 13 Hầu hết mọi thị trường đều có mối quan hệ cung - cầu, chất lượng và giá cả, cạnh tranh,.
trong thị trường lao động cũng xuất hiện các đặc tính này. Nhưng một điểm đặc biệt của thị trường lao động là chỉ có duy nhất một loại hàng hóa, đó là dịch vụ lao động hay còn được gọi là sức lao động. Dịch vụ lao động này gắn liền với chủ thể, không thể tách rời, nên bên mua chỉ có thể sử dụng sức lao động trong phạm vi và điều kiện đã thỏa thuận (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (cb), 2008, tr. Vậy “thị trường lao động” là không gian mua bán hàng hóa đặc biệt - dịch vụ lao động, ở đây điều kiện sử dụng sức lao động, thời gian sử dụng, giá cả và các quan hệ hợp đồng được xác định.
Để đảm bảo quyền lợi bên mua và bên bán, phân bố và sử dụng nguồn nhân lực hợp lý, nhà nước đã đưa ra những thể chế, chiến lược điều tiết thị trường lao động. ❖ Khái niệm “Chính sách việc làm” “Chính sách việc làm” là hệ thống các chính sách liên quan đến vấn đề việc làm, thị trường lao động. Hệ thống này là tập hợp những chương trình, biện pháp, thể chế được thực thi nhằm hướng đến mục đích tạo việc làm và sử dụng lực lượng lao động hiệu quả. Chính sách việc làm không chỉ giới hạn trong lao động và việc làm mà nó còn có sức ảnh hưởng đến chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế thì Chính sách việc làm Quốc gia là một kế hoạch thực tiễn, toàn diện để đạt được các mục tiêu việc làm của một đất nước. Chính phủ ngoài việc phải đảm bảo đạt được thỏa thuận chung giữa tất cả các bên trong nền kinh tế, bao gồm cả chủ sử dụng lao động và người lao động, mà còn phải nhận thấy rõ những thách thức từ xu hướng nhân khẩu học, dịch chuyển lao động, bất bình đẳng về tiền lương, bất bình đẳng về giới,… (ILO, 2015). Có thể thấy chính sách việc làm không chỉ giới hạn trong tạo việc làm mà còn có trách nhiệm bảo đảm bảo trợ xã hội, bảo vệ nhân quyền và phát triển con người. ❖ Khái niệm “Xuất khẩu lao động” Xuất khẩu lao động là hoạt động mua bán hàng hóa sức lao động nội địa cho người sử dụng sức lao động nước ngoài.
Trong đó: 14 - Hàng hóa sức lao động nội địa được cung cấp bởi nguồn lao động trong nước vì mục đích kinh tế cho người sử dụng lao động nước ngoài. - Người sử dụng lao động nước ngoài là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trực tiếp thuê mướn người lao động Việt Nam theo hợp đồng lao động. - Hoạt động mua bán ở chỗ người lao động trong nước sẽ bán quyền sử dụng sức lao động của họ cho người mua ở nước ngoài với các điều kiện thời gian, tiền lương, bảo hiểm, thuế,. được thỏa thuận bằng hợp đồng lao động.
Trong đề tài “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý xuất khẩu lao động ở nước ta trong giai đoạn tới” thì “xuất khẩu lao động” được định nghĩa là: một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại mà hàng hóa đem xuất khẩu là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Hoạt động xuất khẩu lao động là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế giữa các nước trong sản xuất, nhằm bổ sung cho nhau về lực lượng lao động, khắc phục những khó khăn, nhược điểm và phát huy lợi thế vốn có của mỗi quốc gia (Cao Văn Sâm, 1994, tr. Ở Việt Nam hoạt động xuất khẩu lao động được bắt đầu từ năm 1980 đến nay đã gặt hái được rất nhiều thành công, mang lại cho đất nước nhiều lợi ích kinh tế và hợp tác quốc tế. Hiện có bốn hình thức xuất khẩu lao động theo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, số 72/2006/QH11: 1.
Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức được phép hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; 2. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; 3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình thức thực tập nâng cao tay nghề; 4. Hợp đồng cá nhân.
15 ❖ Khái niệm “Di cư lao động” Trước hết là chữ “di cư”, tiếng Anh là “migration”, chỉ hoạt động dịch chuyển lao động từ nơi này sang nơi khác. Tổ chức Liên Hợp Quốc vào năm 1958 đưa ra khái niệm “di cư hay di dân là sự dịch chuyển từ khu vực hành chính này sang khu vực hành chính khác, trong một khoảng thời gian nhất định”. Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) cũng cho rằng “di cư là sự di chuyển của một người hay một nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia. Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì những mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình”.
Như vậy, “di cư” là sự di chuyển của một người hoặc một nhóm người từ vùng này sang nơi khác trong một quốc gia hoặc là từ quốc gia này đến quốc gia khác, thông qua các kênh chính thức hoặc không chính thức. Vậy thì “di cư lao động” (migrant worker) có nghĩa là “một người đã, đang và sẽ tham gia một hoạt động được trả công tại quốc gia mà người đó không phải là công dân”3. Thêm nữa, trong ấn phẩm “Giải thích thuật ngữ về di cư” của IOM còn có khái niệm “người lao động di cư tạm thời” (temporary migrant workers) chỉ những người lao động lành nghề, bán lành nghề hoặc chưa qua đào tạo ở lại nước tiếp nhận trong khoảng thời gian xác định được ghi trong hợp đồng lao động với một cá nhân hoặc hợp đồng dịch vụ ký kết với một doanh nghiệp, còn được gọi là người lao động di cư theo hợp đồng (IOM, 2011, tr. Trong những năm gần đây, “di cư lao động” là một khái niệm được quốc tế công nhận và sử dụng phổ biến, các tổ chức phi chính phủ như Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức Di cư quốc tế hay Ngân hàng thế giới đều dự báo rằng đây sẽ là xu hướng trong tương lai.
Khái niệm “di cư lao động” còn được dùng trong trường hợp con người di chuyển các vùng khác nhau trong một quốc gia. Tuy nhiên trong bài viết này “di cư lao động” sẽ được dùng với một nghĩa duy nhất là chỉ sự di chuyển của người lao động giữa các quốc gia. ❖ Tư cách lưu trú tại Nhật Bản 3 Trích từ Công ước quốc tế về Bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên của họ, ngày 18 tháng 12 năm 1990. 16 Hiện Việt Nam vẫn chưa ký kết hiệp định miễn thị thực nhập cảnh với Nhật Bản nên bất kể công dân Việt Nam nào muốn hạ cánh ở Nhật đều phải xin thị thực (visa), đây là giấy chứng nhận của cơ quan nhập cư Nhật Bản cấp phép.
Tuy nhiên thị thực chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn, dành cho khách du lịch, thăm thân nhân,… Đối với công dân nước ngoài lưu trú ở Nhật Bản từ 90 ngày trở lên phải xin thêm giấy chứng nhận tư cách lưu trú. Theo Đạo luật Kiểm soát Nhập cư và Công nhận tị nạn của Nhật Bản (gọi tắt là Đạo luật Kiểm soát Nhập cư - ICRRA), công dân nước ngoài chỉ được phép nhập cảnh và ở lại với tư cách lưu trú mà họ được cấp (Điều 2 - 2). Công dân nước ngoài không được tham gia bất kỳ hoạt động nào dẫn đến thu nhập hoặc thanh toán, ngoài những hoạt động trong khuôn khổ tư cách lưu trú của họ cho phép (Điều 19) (Chizuko Hayakawa, 2010).